ĐIỀM PHÙNG THỊ, NGƯỜI TẠC TƯỢNG GIỮA ĐÔNG VÀ TÂY

Trần Đức Anh Sơn

“Khi sáng tác, tôi đã hạnh phúc, đã đau khổ. Tác phẩm điêu khắc đó bây giờ không còn thuộc về tôi nữa. Tôi trao nó cho các bạn, hoặc đúng hơn tôi, trao tôi cho các bạn”. (Điềm Phùng Thị – 1967).

Tôi biết tên Điềm Phùng Thị lần đầu tiên khi đọc bài viết Điềm Phùng Thị điêu khắc, một cái nhìn nội tâm của Raymond Cogniat, do họa sĩ Bửu Chỉ chuyển ngữ, in trên tạp chí Sông Hương (Số 30/1988). Một cái tên rất lạ, giống như những tác phẩm của bà được giới thiệu trong bài viết ấy. Từ đó, tôi bắt đầu quan tâm tìm hiểu thân thế và thiên hướng nghệ thuật của người phụ nữ danh tiếng này. Nhưng mãi đến năm 1994, khi thành phố Huế mở Nhà trưng bày nghệ thuật Điềm Phùng Thị để đón nhận những “tác phẩm đời người” do bà trao tặng cho Huế, thì tôi mới có dịp tiếp xúc với bà.

Bà tên là Phùng Thị Cúc (1920 – 2002) quê ở xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh ra và lớn lên ở Huế. Cha của bà là Phùng Duy Cần, một quan chức của triều Nguyễn, từng làm tham công trong công trình xây dựng lăng mộ của vua Khải Định ở cố đô Huế. Tuổi thơ của bà gắn liền với miền đất sông Hương, núi Ngự, với trường Đồng Khánh, nơi bà được tôn vinh là hoa khôi của ngôi trường nữ sinh danh tiếng này.

Sau khi tốt nghiệp nha khoa tại trường Đại học Y khoa Hà Nội vào năm 1946, Phùng Thị Cúc sang Pháp chữa bệnh, đồng thời, tiếp tục theo học nghề nha và tốt nghiệp tiến sĩ nha khoa tại Pháp. Sau khi tốt nghiệp, bà chỉ hành nghề nha sĩ một thời gian thì chuyển sang hoạt động nghệ thuật. Năm 1963, Điềm Phùng Thị mở cuộc triển lãm đầu tiên ở Paris và được công chúng Pháp nồng nhiệt đón nhận. Đánh giá về cuộc triển lãm này, GS. Madi Menier của Đại học Paris 1 – Sorbonne viết: Lần đầu tiên không cầu kỳ chuộng lạ hương xa, một nhà tạc tượng – trong số biết bao nhà tạc tượng từ Viễn Đông đến Paris – giành được chỗ đứng cho châu Á ngay trong lòng ngành điêu khắc rất hiện đại của Paris. Tác phẩm của một nghệ sĩ bậc thầy và tác phẩm tiên tri. Sự đơn giản hóa cao độ và tinh tế các hình thể, hiếm có, tinh khiết, đan xen nhau, đã trực tiếp dự báo rõ rệt đặc điểm sau này của nghệ thuật Điềm Phùng Thị, một phong cách sáng tạo độc đáo, hoàn toàn mới mẻ, chỉ có ở bà” (Madi Menier, Diem Phung Thi “Lettré(s) de science et de talent” – 1997). Kể từ đây, cái tên Điềm Phùng Thị, sự kết hợp giữa tên người chồng hoàng phái – Bửu Điềm – với tên của bà – Phùng Thị Cúc, bắt đầu được giới văn nghệ châu Âu biết đến. Từ sau cuộc triển lãm ra mắt vào năm 1963 cho đến năm 1990, Điềm Phùng Thị đã tổ chức 22 cuộc triển lãm ở châu Âu và trên thế giới. Bà được mời dựng tượng đài ở 36 địa điểm trên nước Pháp. Năm 1991, tên Điềm Phùng Thị được đưa vào từ điển Larousse Art du XX siècle. Năm 1992, bà được bầu vào Viện hàn lâm Khoa học – Văn nghệ châu Âu. Ở Việt Nam, trước khi Nhà trưng bày nghệ thuật Điềm Phùng Thị khánh thành ở Huế, trở thành nơi gìn giữ gần như toàn bộ sáng tác của bà, Điềm Phùng Thị đã 2 lần giới thiệu nghệ thuật độc đáo của mình ở Sài Gòn (1962) và Hà Nội (1978).

Trong khi người Việt Nam dường như vẫn còn lạ lẫm với phong cách sáng tác của bà thì công chúng châu Âu lại coi bà là một nghệ sĩ tiên phong trong việc kết hợp giữa những tư tưởng triết học phương Đông với tinh thần duy mỹ của nghệ thuật phương Tây trong nghệ thuật tạo hình. Tác phẩm của bà “đã tạo nên sức lan tỏa huyền bí và giá trị hào hùng của những nền văn minh cổ xưa của phương Đông, đồng thời tạo nên một sức hấp dẫn có tính nhân văn và một sức thể hiện mang tính tiêu biểu kỳ diệu bởi sự nhạy cảm rất hiện đại” như đánh giá của Enzo Carli, Giám đốc Galerie de Sienna ở Italia.

Trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của mình, Điềm Phùng Thị dành sự ưu ái đặc biệt cho ba chủ đề: phụ nữ, phản đối chiến tranh và sự nhớ thương nước Việt. Hình tượng phụ nữ trong nghệ thuật của Điềm Phùng Thị được thể hiện bởi nhiều loại chất liệu và màu sắc khác nhau, với đủ mọi cung bậc cảm xúc: hạnh phúc, khổ đau, tràn đầy tính dục… với những tác phẩm lừng danh như: Chân dung người bạn Nam Hàn, Trái đất, Người đàn bà ngồi xổm, Đợi chờ… Với đề tài phản chiến, tác phẩm của bà cũng là những tiếng thét “câm lặng” nhưng có sức vang dội, đánh động lương tri của nhân loại. Còn với đề tài quê hương, mỗi tác phẩm của bà đều là những nỗi nhớ thương sâu kín, đau đáu nhưng không bi lụy. Trẻ em cũng là đối tượng mà Điềm Phùng Thị để tâm rất nhiều. Những sáng tác về trẻ em của bà luôn chứa đựng nét hồn nhiên, tươi tắn và khát vọng được yêu thương, che chở.

Sau khoảng mươi năm theo đuổi nghệ thuật tượng tròn, Điềm Phùng Thị đã chuyển hướng sáng tác của mình theo một cách thức bất ngờ nhất: tạo ra những module đặc hữu và dùng sự biến hóa của trí tuệ và đôi tay để lắp ghép những module ấy thành những tác phẩm nghệ thuật để đời. Từ những khối vật thể hình vuông, hình thang, hình chữ nhật, hình tròn… ngẫu nhiên, Điềm Phùng Thị đã tinh lọc, sáng tạo và nhất thể hóa thành 7 module mà nhà phê bình nghệ thuật Raymond Cogniat gọi là “7 chữ cái Điềm Phùng Thị”, còn GS. Trần Văn Khê thì gọi là “7 nốt nhạc Điềm Phùng Thị”. Từ 7 “chữ cái/nốt nhạc” ấy, Điềm Phùng Thị đã để lại cho nhân loại một thế giới nghệ thuật muôn hình vạn trạng, biến ảo và thấm đẫm triết lý Đông phương.

Có lẽ vì thế mà khi chiêm ngưỡng tác phẩm của bà, nhà thơ Tố Hữu đã cảm thán: “Tôi thật lòng bàng hoàng mà nhận những cảm xúc vừa trừu tượng, vừa cụ thể về cuộc sống và những con người, với muôn vàn vẻ đẹp kỳ diệu của một nghệ thuật, vừa bác học, vừa dân gian, vừa có tính nhân loại, cả Đông và Tây. Điềm Phùng Thị có thể được xem là một ‘tạo hóa’ trong lĩnh vực điêu khắc, mở ra những chân trời mới không những cho nghệ thuật, mà cho cả lĩnh vực tư duy”. (Tố Hữu – 1997). Dẫu rằng lúc sinh thời, bà từng nói với tôi: “Tôi không phải là một nhà điêu khắc, không phải là người làm nghệ thuật tiên phong. Tôi chỉ là một nha sĩ làm nghề tạc tượng”. (Điềm Phùng Thị – 25.2.1994).

Nghệ sĩ Điềm Phùng Thị. Ảnh tư liệu Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị - Artist Diem Phung Thi. Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House .

Nghệ sĩ Điềm Phùng Thị. Ảnh tư liệu Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / Artist Diem Phung Thi. Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House .

Tượng đài Ngôi đền ở Indre & Loire (Pháp). 1973. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị - The Temple. Polyester (in Indre & Loires - France. 1973). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House

Tượng đài Ngôi đền ở Indre & Loire (Pháp). 1973. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / The Temple. Polyester (in Indre & Loires – France. 1973). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House

Tượng đài Cây ở Saint Martin - d’Hère, Isère (Pháp). 1976. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / Trees. Stone (in Saint Martin - d’Hère, Isère - France. 1976). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House.

Tượng đài Cây ở Saint Martin – d’Hère, Isère (Pháp). 1976. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / Trees. Stone (in Saint Martin – d’Hère, Isère – France. 1976). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House.

Tượng đài Đá trong khuôn viên Trường Jean Moulin ở Saint Nazaire, Loire Atlantique (Pháp). 1975. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / Rocks. Stone (in the College of Jean Moulin in Saint Nazaire, Loire Atlantique – France. 1975). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House.

Tượng đài Hoa sen ở Chenevières, Val de Marns (Pháp). 1976. Ảnh tư liệu của Nhà trưng bày Nghệ thuật Điềm Phùng Thị / Lotus. Stone (in Chenevières, Val de Marns – France. 1976). Photo courtesy of Diem Phung Thi Art Exhibition House

Chiến binh ra trận vác vợ theo. Đồng. 1963. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Warriors in combat belting their spouses. Bronze. 1963. Photo: Tran Duc Anh Son

Chiến binh ra trận vác vợ theo. Đồng. 1963. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Warriors in combat belting their spouses. Bronze. 1963. Photo: Tran Duc Anh Son

Hồ hân hoan. Bê tông. 1993. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Welcome-Fontain. Concrete. 1993. Photo: Tran Duc Anh Son

Hồ hân hoan. Bê tông. 1993. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn /  Welcome-Fontain. Concrete. 1993. Photo: Tran Duc Anh Son

Những người nhào lộn. Đất nung. 1967. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Acrobats. Terracotta. 1967. Photo: Tran Duc Anh Son

Những người nhào lộn. Đất nung. 1967. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn /  Acrobats. Terracotta. 1967. Photo: Tran Duc Anh Son

Trái đất. Đồng. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / The Earth. Bronze. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Trái đất. Đồng. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / The Earth. Bronze. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Ngôn ngữ Điềm Phùng Thị. Nhôm và gỗ. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Language of Diem Phung Thi. Aluminum and wood. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Ngôn ngữ Điềm Phùng Thị. Nhôm và gỗ. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Language of Diem Phung Thi. Aluminum and wood. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Tháp thần. Nhôm. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Magic Tower. Aluminum. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Tháp thần. Nhôm. 1965. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Magic Tower. Aluminum. 1965. Photo: Tran Duc Anh Son

Hồ tưởng niệm. Chì. 1980. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Memorial lake. Lead. 1980. Photo: Tran Duc Anh Son

Hồ tưởng niệm. Chì. 1980. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / Memorial lake. Lead. 1980. Photo: Tran Duc Anh Son

Lẵng hoa. Vải. 1994. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / A Flower Basket. Fabric. 1994. Photo: Tran Duc Anh Son

Lẵng hoa. Vải. 1994. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn / A Flower Basket. Fabric. 1994. Photo: Tran Duc Anh Son

EVEN STONES CAN TELL

Tran Duc Anh Son

“In creating them, I had my part of happiness and of suffering. These sculptures now no longer belong to me. I hand them over to you or rather give myself to you.” (Diem Phung Thi – 1967).

I first knew Diem Phung Thi through an article titled “Diem Phung Thi in sculpture: An introvert outlook” by Raymond Cogniat that was translated by painter Buu Chi and issued in Song Huong magazine (Vol. 30/1988). So strange was her name, just like her works as introduced in the article. Since then, I started paying attention to the background and artistic predilections of this renowned woman. It was not until 1994 when Hue authorities launched Diem Phung Thi Art Exhibition House to display “lifetime works” that Diem Phung Thi gave to the city, I had a chance to meet her.

She was born Phung Thi Cuc (1920 – 2002). Although her original homeland was Bui Xa Commune, Duc Tho, Ha Tinh, she was born and raised in Hue. Her father was Phung Duy Can, an official in Nguyen dynasty who once worked as a consultant for tomb construction project of King Khai Dinh in ancient capital of Hue. Her childhood was associated with this picturesque land and Dong Khanh Female High School where she was proclaimed as the beauty of the school.

After graduating in dentistry from the Hanoi University of Medicines in 1946, Phung Thi Cuc started her career in France while continuing her field of study and fulfilling her dentistry doctorate in France. Since her graduation, she continued her career as a dentist for a while, then resorting to arts. In 1963, Diem Phung Thi opened her first solo exhibition in Paris that was warmly embraced by the local publicity. On this exhibition, Prof. Madi Menier in the University of Paris I – Sorbonne wrote: “For the first time, – while so many others moved away from the Far East to Paris – a sculptor, without any false exoticism, made room for Asia in the midst of the most contemporary Parisian sculpture. The work of a master, a prophetic work. The extreme and very sophisticated simplification of rare, purified forms, fitter together, directly prefigures what would much later become the most characteristic feature of the art of Diem Phung Thi, a totally original new mode of creation belonging only to her ” (Madi Menier, Diem Phung Thi, woman “of letters, science and talent” – 1997). Since then, her name Diem Phung Thi – a combination between the name of her royal husband Buu Diem and her own name Phung Thi Cuc – began to draw the attention of European artists. From her solo exhibition in 1963 to 1990, Diem Phung Thi hosted 22 exhibitions throughout Europe and the world. She was invited to erect statues in 36 locations across France. In 1991, Diem Phung Thi was mentioned in Larousse dictionary Art du XX siècle. In 1992, she was voted to join the European Academy of Sciences and Arts. In Vietnam, before the Diem Phung Thi Art Exhibition House was launched in Hue to store virtually all of her works, Diem Phung Thi introduced her unique styles twice in Saigon (1962) and Hanoi (1978).

While the Vietnamese remain unfamiliar to her creation styles, European art lovers regard her as an apostle in combining Oriental philosophies with the Art-for-Art’s-sake concept of the West in graphic arts. Her works “rekindled a mysterious ripple effect and magnificent values of ancient Oriental civilizations while still creating a humanitarian attraction and a miraculously typical style of expressions thanks to her modern sensitivity” as remarked by Enzo Carli, Director of the Galerie de Sienna, Italy.

During her long lasting career, Diem Phung Thi made a special devotion to three themes: women, oppositions to wars and her nostalgia for Vietnam. Images of women in Diem Phung Thi’s art are presented using various color tones and materials and full of emotional expressions: happiness, agony or sexuality through her famous works such as Portrait of a South Korean girl-friend, The Earth, The Squatting Lady or Awaiting… In the anti-war theme, her works also serve as silent cries that echoed far and wide to awaken the compassion of humanity. In the theme of homeland, each of her brainchildren is a persistent longing, yet without traces of melancholy. Children are also a key theme of Diem Phung Thi. Her works on children are always characterized by brightness, naivety and desires for shelter and affections.

After about ten years spent pursuing round statue art, Diem Phung Thi shifted her focus to a most astonishing field: creating endemic modules and joining them into masterpieces with the versatility of wisdom and manual skills. From random shapes of squares, trapezoids, rectangular or circles…, Diem Phung Thi selected, invented and systemized to form seven modules that were coined “seven alphabets of Diem Phung Thi” by critic Raymond Cogniat or “seven music notes of Diem Phung Thi” by Prof. Tran Van Khe. Starting with these seven alphabets/notes, Diem Phung Thi bequeathed to the world a realm of myriad shapes, metamorphoses and Oriental philosophies.

No wonder, on marveling at her works, poet To Huu praised: “How much surprised I have been to find those feelings both abstract and concrete about life and people with all the glamour of an art which can be said to be not only scholarly and popular, but also bearing in itself national and human traits, intergrating Oriental and Western characteristics. Opening up new horizons not only for art but for all other fields of reasoning as well, Diem Phung Thi can be regarded as a ‘Creator’ in sculpture” (To Huu, 1997). Anyway, when alive, she once said to me: “I am neither a sculptor nor an art pioneer. I am just a dentist who delights in statuary” (Diem Phung Thi, February 25, 1994).

Bài này đã được đăng trong Hồn cố đô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s