ĐỒ SỨ MÀU CỦA NHẬT BẢN

Trần Đức Anh Sơn

Từ thời Jomon (10.000 – 300 trước Công nguyên), người Nhật đã biết sản xuất đồ gốm. Tuy nhiên, mãi đến thế kỷ XVII, thì gốm sứ Nhật Bản mới được thế giới bên ngoài biết đến, nhiều nhất là ở châu Âu. Do chính “bế môn tỏa cảng” của nhà Minh trong các năm 1371 – 1567 nên gốm sứ Trung Hoa bị hạn chế xuất khẩu ra nước ngoài. Điều này tạo cơ hội cho gốm sứ các nước khác, trong đó có Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, gia tăng xuất khẩu và thâm nhập mạnh mẽ vào thị trường châu Âu.
Việc xuất khẩu gốm sứ (chủ yếu là đồ sứ) đóng một vai trò quan trọng trong ngoại thương của Nhật Bản. Theo các nguồn sử liệu, kỹ nghệ làm gốm sứ có men ở Nhật Bản là do một người Triều Tiên tên là Li Sampei khởi dựng. Ông này là tù binh trong cuộc chiến tranh của Nhật – Triều (1592 – 1598), bị bắt đưa về vùng Arita. Tại đây, Li Sampei đã tìm ra nguồn đất sét trắng ở miền tây Arita và đã thử nghiệm thành công việc chế tác gốm sứ từ nguồn đất sét này vào năm 1610. Sau này, đất sét chất lượng cao cũng được tìm thấy gần một bến tàu ở Izumiyama trong thung lũng Arita. Từ đó, đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất với số lượng lớn ở Nhật Bản. Đến năm 1637, do sản xuất gốm sứ phát triển nhanh khiến nhiều cây rừng ở vùng Saga đã bị chặt phá để làm củi đốt lò. Vì thế, Nabeshima, một lãnh chúa địa phương đã ra lệnh đóng cửa 11 lò làm đồ gốm, sát nhập thành 13 lò chuyên làm đồ sứ, tập trung ở vùng Arita (trên đảo Kyushu, phía tây Nhật Bản). Từ đây, Nhật Bản tập trung sản xuất đồ sứ, đặc biệt là đồ sứ màu, mà người Nhật gọi là bằng nhiều cái tên như: Iroemono, Iroekotō hay Iroejiki.
Đồ sứ màu của Nhật Bản nổi danh bởi bốn dòng sản phẩm chính là: Kakiemon, Imari, KutaniNabeshima.
1. Đồ sứ Kakiemon
Kakiemon lấy từ tên của Sakaida Kakiemon (1596 – 1666), biệt danh của một người thợ làm gốm tên là Kizoemon ở Arita. Có một giai thoại kể rằng, vào một buổi chiều, Kizoemon nhìn lên những quả hồng (kaki) trong vườn dưới ánh tà dương và nghĩ rằng thật tuyệt vời làm sao nếu có thể tái hiện được sắc màu này các món đồ gốm của mình. Cuối cùng, sau một quá trình nghiên cứu đến kiệt sức, Kizoemon đã thành công trong việc thực hiện khao khát này. Do đó ông tự gọi mình là “Kakiemon”, nghĩa là “đằng sau màu sắc đẹp đẽ của quả hồng”. Một câu chuyện khác được lưu truyền trong dòng họ Sakaida thì cho rằng, Kizoemon được một ông hoàng của gia tộc Nabeshima đề nghị thể hiện hình ảnh trái hồng lên trên một món đồ sứ. Và Kizoemon, với tất cả sự khéo léo đã làm điều này khiến hình ảnh trái hồng trên món đồ sứ trông giống như thật. Và như một sự tưởng thưởng, ông hoàng này đã ban cho người thợ gốm Sakaida Kizoemon cái tên “Kakiemon”. Đó là lý do tại sao Sakaida Kizoemon và con cháu ông sau này đều mang tên Kakiemon.
Lò sứ Kakiemon tồn tại và phát triển qua 12 thế hệ, kể từ khi ông tổ Sakaida Kakiemon thành công trong việc tạo ra dòng đồ sứ vẽ màu đỏ (Akaemono) đầu tiên ở Nhật Bản cho đến khi kết thúc thời kỳ Kan’ei (1624 – 1643).
Ông tổ Kakiemon sống đến 70 tuổi nhưng các thế hệ thứ 2, thứ 3 và thứ 4 đều chết rất sớm. Vì thế không có sự thay đổi lớn nào về quy trình sản xuất trong thời kỳ này. Đây được coi là thời kỳ thứ nhất của dòng đồ Kakiemon. Ba thế hệ tiếp theo là thế hệ thứ 5, thứ 6 (với một vị giám quản nổi tiếng là Shibuemon) và thế hệ thứ 7 đã mở ra thời kỳ thứ hai của dòng đồ sứ này. Thời kỳ thứ ba là thời kỳ mà đồ sứ Kakiemon có ảnh hưởng rất lớn đến sản phẩm của hai dòng đồ sứ màu khác của Nhật Bản là ImariNabeshima, nhưng về sau đồ sứ Kakiemon lại dần dần bị lấn lướt và thay thế bởi đồ sứ Imari và đồ sứ Nabeshima.
Trong thời kỳ thứ nhất (1640 – 1680), đồ sứ Kakiemon đạt đến sự bóng láng tuyệt hảo, màu men trắng bóng mờ như màu ngọc. Do nhiệt độ nung cao nên cốt sứ đã đạt độ tinh khiết cao, tạo nên cảm giác mát lạnh như đồ sứ Shirokorai (đồ sứ trắng của Triều Tiên). Chất men được dùng trong thời kỳ này được khai thác từ khu mỏ Izumyami thuộc quyền sở hữu của lãnh chúa Arita. Do chỉ có gia đình Kakiemon được dùng loại quặng này để chế tạo men, nên ở Arita chỉ có đồ của lò Kakiemon mới làm được chất men mờ đục trên và đó cũng đặc điểm nổi bật của dòng đồ Kakiemon. Chất men này được sử dùng độc quyền cho đến cuối thời kỳ thứ nhất.
Các sản phẩm của Kakiemon trong thời kỳ này vượt trội đồ Kutani và đồ Nabeshima nhờ việc sử dụng màu sắc rất đa dạng, bao gồm các màu: đỏ, xanh lục, xanh dương, vàng, đen, tím, vàng và bạc. Những màu này được kết hợp rất khéo léo và sắc sảo ở trên bề mặt của sản phẩm, tạo ra một vẻ đẹp duyên dáng và tao nhã.
Về trang trí, trong thời kỳ thứ nhất, đồ Kakiemon có ba kiểu trang trí sau: trang trí mô phỏng theo dòng gốm sứ Manreki Akae (màu đỏ Vạn Lịch) của triều đại nhà Minh ở Trung Hoa, toàn bộ hay một phần, với một vài thay đổi cho phù hợp với thị hiếu của người Nhật; trang trí theo phong cách Kakiemon truyền thống, vốn được coi là thuần túy Nhật Bản và trở thành khuôn mẫu của dòng đồ Kakiemon; và trang trí theo kiểu phương Tây, được tiếp nhận qua ảnh hưởng từ Hà Lan.
Kiểu trang trí thứ nhất là các đồ án vẽ chim phượng hoàng hay rồng ảnh hưởng từ đồ sứ Manreki Akae; các nhân vật, chim, hoa… được thể hiện bằng bút pháp tả chân theo phong cách hội họa Trung Hoa.
Kiểu trang trí thứ hai hoàn toàn khác với trang trí trên đồ Akae Trung Hoa, thường có nhiều đường uốn lượn, các hồi văn hình thoi và những đường hình vòng cung bao phủ hầu hết bề mặt, trong khi các hình vẽ minh họa lại bị giới hạn trong các khuôn viên riêng biệt. Điều này không tương hợp với thị hiếu của người Nhật, cả trong phong cách lẫn sự tao nhã. Kakiemon không bị lôi cuốn bởi phong cách Trung Hoa này. Dường như ông đã nắm bắt được linh hồn của cỏ hoa, hòn đá, chim muông trong trạng thái tự nhiên của chúng và tái hiện chúng trong những trang trí của ông. Điều này tạo nên nét khác biệt trong trang trí của đồ Kakiemon theo phong cách thuần Nhật với cách trang trí vay mượn từ đồ Akae của Trung Hoa.
Kiểu trang trí thứ ba ảnh hưởng bởi Hà Lan, qua các hình vẽ cỏ hoa, những loài chim nhỏ được sắp xếp một cách cân đối trong những ô nhỏ như hình huy chương, phân bố trên khắp bề mặt món đồ. Từ khi Nagasaki trở thành một thương cảng mà người Hà Lan đến mở công ty giao dịch rất nhiều, đã dẫn đến việc nhập khẩu nhiều mặt hàng từ châu Âu vào đây như: thủy tinh, đồ sứ, đồ vải, đồ đồng, tranh ảnh… Những người thợ làm đồ sứ Nhật Bản đã nhanh chóng lĩnh hội và áp dụng những mẫu mã có trên hàng hóa châu Âu vào việc trang trí trên đồ sứ. Điều này cũng ảnh hưởng lên trang trí của dòng đồ Kakiemon trong thời kỳ thứ nhất. Cũng trong thời kỳ này, một thương gia triệu phú của Imari tên là Toshima Tokuemon đã đến Nagasaki để khuyếch trương giao thương với các nước khác. Tại đây, ông đã giao thương với người Trung Hoa và người Hà Lan và đã ông học được bí quyết tạo ra dòng men đỏ. Ông đã thử nghiệm loại men này trên đồ sứ Kakiemon. Sau nhiều phen thất bại, cuối cùng ông đã thành công và tạo ra một diện mạo mới cho dòng đồ Kakiemon, đó chính là dòng đồ Akaemono của Nhật Bản, xuất khẩu sang cả Trung Hoa và Hà Lan. Ông cũng là người đã thành công trong việc đắp vàng và bạc lên các họa tiết trang trí trên đồ sứ, mở ra một quy trình hoàn chỉnh để sản xuất dòng đồ Nishiki-de (đồ sứ thếp vàng), tạo nên những bức tranh nhiều màu sắc rực rỡ trên đồ sứ Kakiemon.
Đại diện xuất sắc cho thời kỳ thứ hai (1680 – 1720) của đồ sứ Kakiemon là Shibuemon, người đã tạo nên một phong cách hoàn toàn khác với những phong cách của thời kỳ thứ nhất. Trong thời kỳ này, đồ sứ Kakiemon sử dụng loại cốt thai “bán thấu quang” như đồ Sometsuke (đồ sứ xanh và trắng), tương tự như đồ Imari thông thường, nhưng chất lượng tốt hơn.
Về trang trí, đặc điểm của giai đoạn thứ hai này là sự biến đổi đáng chú ý từ phong cách Kakiemon truyền thống sang phong cách Imari. Nguyên nhân là do sự thay đổi theo thị hiếu của người Nhật. Thời kỳ này người Nhật chuộng vẻ tráng lệ được tạo nên từ những trang trí và phối màu theo kiểu truyền thống của những món đồ Kakiemon sơ kỳ và chuẩn hóa theo phong cách trang trí đa dạng và rối rắm của dòng đồ Imari.
Tuy nhiên, dẫu cho đồ Kakiemon trong thời kỳ này có theo phong cách của Imari, thì vẫn có thể phân biệt được với đồ Imari chính gốc. Trên đồ Imari, họa tiết bao phủ toàn bộ bề mặt của món đồ với sự kết hợp giữa màu sắc và hoa văn, trong khi đó phần trung tâm của các món đồ Kakiemon lại rất thoáng, hoặc chỉ được trang hoàng bằng những hình ảnh minh họa đẹp và gây ấn tượng. Ngoài ra, dù sử dụng màu sắc và hoa văn kiểu Imari, thì đồ Kakiemon vẫn thể hiện chất lượng cao nhất của kỹ thuật tinh xảo truyền thống và thoát ly khỏi sự dễ dãi trong kỹ thuật của đồ Imari. Và có một điều nghịch lý là, Shibuemon, đại diện cho thời kỳ thứ hai của Kakiemon là một thiên tài vì ông đã áp dụng phong cách Imari cho dòng đồ Kakiemon, nhưng lại định nên những kiểu mẫu khiến bản thân những nghệ nhân của dòng đồ Imari phải tuân theo.
Sản phẩm của thời kỳ này là những cái bát hình vuông hoặc tròn, bên trong trang trí hoa cúc, cây thông, cây tre, cây mận đang ra hoa…, còn mặt ngoài lại trình diễn những đường nét đơn giản hay hình chim phượng, cây thông, cây mận hoặc tre, và tô điểm thêm ở phần trung tâm của món đồ bằng những nhánh cây dương xỉ theo kiểu phương Đông. Đó không phải là kiểu trang trí đơn giản, mà được sắp xếp thật sắc sảo bởi nhiều màu sắc tiêu biểu của thời kỳ thứ nhất. Những kiểu trang trí như vậy đã được chuẩn hóa và hình thành nên một Kakiemon-de (phong cách Kakiemon).
Trong thời kỳ thứ ba (1720 – 1950), những nghệ nhân Kakiemon dường như đã cố gắng đưa sản phẩm của họ đến gần hơn với trường phái Imari, và đã củng cố phong cách này, cứ như là bản thân họ là những người thuộc trường phái Imari. Sản phẩm đạt chuẩn của dòng đồ Kakiemon trong thời kỳ này được gọi là Katamono, theo sát trường phái Imari và được coi là biểu tượng của lò Kakiemon nổi tiếng. Phần cốt thai của sản phẩm trong thời kỳ này gần giống với cốt thai “bán thấu quang” của thời kỳ đầu tiên, dù có phần hơi thô, và được gọi là Dami-de (phong cách Dami). Họa tiết trở nên tẻ nhạt và quy ước hóa. Khi dòng đồ Kakiemon bước vào thời kỳ thứ ba thì những lò sứ Nabeshima ở trong vùng đã phát triển thịnh vượng và bắt đầu làm ra những sản phẩm tuyệt vời. Vì thế, gia đình Kakiemon đã đưa vào sản phẩm của mình những đặc điểm về dáng kiểu và hoa văn của dòng đồ Nabeshima. Sau cải cách Minh Trị (1868), dòng họ Kakiemon đã làm sống lại dòng sản phẩm chế tác theo kiểu mẫu châu Âu, giống như họ đã copy những kiểu mẫu của Hà Lan trong thời kỳ thứ nhất. Việc xuất khẩu đồ sứ Kakiemon sang châu Âu và châu Mỹ đã tạo ra một thị trường lớn và những món đồ sứ Kakiemon rất được mến mộ. Vậy là, từ một dòng sản phẩm mang dấu ấn riêng của nghệ nhân, đồ sứ Kakiemon đã được sản xuất theo một quy trình chuyên môn kiểu công nghiệp, với sự tham gia của nhiều người trong việc làm ra một sản phẩm hoàn chỉnh.

Hũ, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa mẫu đơn

Hũ, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa mẫu đơn

Nậm rượu, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa lá, nhân vật

Nậm rượu, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa lá, nhân vật

Hộp, đồ sứ Kakiemon, trang trí chim cút và hoa cúc

Hộp, đồ sứ Kakiemon, trang trí chim cút và hoa cúc

Ấm trà, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa mẫu đơn và chim ác là

Ấm trà, đồ sứ Kakiemon, trang trí hoa mẫu đơn và chim ác là

Dĩa lớn, đồ sứ Kakiemon, trang trí chim công và hoa mai

Dĩa lớn, đồ sứ Kakiemon, trang trí chim công và hoa mai

Dĩa lớn, đồ sứ Kakiemon, trang trí hổ và trúc

Dĩa lớn, đồ sứ Kakiemon, trang trí hổ và trúc

2. Đồ sứ Imari
Imari là dòng đồ sứ mà vào buổi sơ kỳ rất gần gũi với những sản phẩm của lò Kakiemon. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, thì dòng đồ Kakiemon có thể bao hàm cả dòng đồ Imari. Lịch sử tồn tại và phát triển của đồ Imari trải qua hai thời kỳ:
Trong thời kỳ thứ nhất (1650 – 1720), đồ sứ Imari có phần cốt thai được làm như đồ Sometsuke (đồ sứ xanh trắng), tương tự như đồ Ch’onghwapaekcha (Thanh họa bạch từ) của vương triều Choson ở Triều Tiên, nhưng có phần trắng hơn. Tuy nhiên, so với đồ sứ Kakiemon thì cốt thai của đồ Imari kém hơn do sử dụng nguồn đất sét có chất lượng kém. Do vậy mà đồ Imari thời kỳ này không được tráng men như đồ Kakiemon; cốt thai có màu đục hơn do lẫn nhiều tạp chất. Cốt thai của đồ sứ Imari tương đồng với đồ Ko-Kutani hơn là với đồ Kakiemon.
Về trang trí, trong thời kỳ này, đồ Kakiemon sử dùng màu sắc để diễn tả các hình ảnh của tự nhiên như động thực vật, phong cảnh, nhân vật… thì trên đồ sứ Imari màu sắc được dùng để sao chép các loại hoa văn trang trí phổ biến trên đồ dệt để tái hiện trên đồ sứ. Các nghệ nhân của dòng Imari đã sưu tầm nhiều kiểu thức hoa văn trên đồ dệt và bố trí, sắp xếp chúng rất khéo léo lên toàn bộ bề mặt của những món đồ sứ. Những hoa văn nhỏ này được kế thừa từ những hoa văn dệt trên đồ vải. Nếu trên đồ Kakiemon có nhiều mảng cốt thai không được phủ men hay trang trí hoa văn thì trên đồ Imari hoa văn trang trí đã phủ kín toàn bộ bề mặt. Điều này được lý giải là sử dụng việc trang hoàng để che bớt phần xương sứ có phần thô và đục. Về mặt xã hội, điều này còn thể hiện tinh thần của thời đại và thị hiếu của người dân lúc bấy giờ luôn hướng đến những gì rực rỡ và đẹp đẽ. Đây chính là thời kỳ thịnh hành của “văn hóa thương nhân” (Merchant culture) ở Nhật Bản, nên văn hóa đã đạt tới đỉnh cao trong thời kỳ Genroku (1688 – 1703) và lan khắp lãnh thổ Nhật Bản vào thời điểm bắt đầu của thời kỳ Edo (1603 – 1868). “Văn hóa thương nhân” này chính là tiền đề dẫn đến sự ra đời của phong cách Kinran-de (phong cách thêu kim tuyến), khiến Nhật Bản đã phải tiêu tốn rất nhiều vàng cho kiểu trang trí này.
Đồ Imari được làm ra chủ yếu dành cho tầng lớp trọc phú. Vì thế chúng phải phục vụ cho thị hiếu của những người đặc biệt trong hàng ngũ thương gia này. Trong khi tại các lò Kakiemon luôn có những nghệ sĩ chuyên nghiệp đảm nhiệm việc thể hiện các đồ án trang trí hoàn chỉnh lên đồ sứ, thì tại các lò Imari, những người thợ ít quan tâm hoặc không quan tâm đến nghệ thuật cũng được tuyển dụng để vẽ những chi tiết trang trí trong những đồ án đã được tách rời thành nhiều phần. Vì vậy họ tiếp tục sử dụng những họa tiết trang trí lấy mẫu từ những kiểu hoa văn dễ dàng tìm thấy trên đồ dệt. Nhiều dấu hiệu của một nền “văn hóa bình dị” được khơi nguồn trong lãnh địa của Imari, thoát khỏi sự ảnh hưởng của văn hóa Kyoto. Người ta đã nhận diện một sức mạnh khởi phát từ những người không thuộc tầng lớp quý tộc phong kiến và một thị hiếu ngoại lai đang dần lớn lên trong vùng này, tách biệt với trung tâm văn hóa truyền thống ở Kyoto. Imari nằm ở vùng phụ cận thương cảng Nagasaki, vốn chịu ảnh hưởng mạnh từ Hà Lan. Cả dân chúng Nhật Bản và những người ngoại quốc làm việc nơi đây đều đánh giá cao dòng đồ sứ Imari, và đã hình thành một thị trường gốm sứ xuất khẩu lớn qua ngõ Imari.
Việc phủ kín bề mặt bởi những chi tiết trang trí vay mượn từ đồ dệt trên đồ Imari đã dẫn đến sự hoàn thiện và chuẩn hóa một phong cách trang trí diễn ra trong suốt thời kỳ thứ hai. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu trên đồ Imari vẫn có những mẫu trang trí khác, trong đó có nhiều mẫu phản ánh những phong tục tập quán thời bấy giờ. Chẳng hạn, hình ảnh của đàn ông và đàn bà Nhật Bản phổ biến trên dòng tranh khắc gỗ Nhật Bản (Ukiyo-e) thời kỳ này xuất hiện rất nhiều trên đồ Imari. Điều này ghi nhận sự thể hiện tài tình “thị hiếu thương gia” trên đồ Imari và lý giải cho tính đại chúng của dòng đồ này.
Bước sang thời kỳ thứ hai, từ năm 1720, đồ Imari bắt đầu quá trình chuẩn hóa về dáng kiểu, hoa văn, men màu. Những gì được các nghệ nhân Imari sáng tạo trong thời kỳ thứ nhất đã được các nghệ nhân của thời kỳ thứ hai chuẩn hóa (katamono) và bảo toàn, từ dáng kiểu, mẫu mã, họa tiết…, cho các giai đoạn phát triển kế tiếp. Từ sự chuẩn hóa này, các đồ án trang trí như: Gosôbune (Năm chiếc thuyền), Kinko-sennin (Người chơi đàn hạc) và những hoa văn mang đặc trưng Trung Hoa… đã trở thành khuôn mẫu kinh điển của đồ Imari.
Vào khoảng giữa thời kỳ thứ hai, sau khi Arita bị một trận hỏa hoạn thiêu rụi thành tro, kỹ nghệ đồ sứ cũng bắt đầu suy thoái. Nguyên nhân là do sự tràn lan của những màu men chạy theo thị hiếu nhưng không tinh lọc, giống như sự suy đồi đã từng trải qua trong dòng tranh khắc gỗ Ukiyoe trong giai đoạn cuối cùng của nó. Đồ Imari thời kỳ này có cốt thai lẫn nhiều tạp chất, còn màu thì lòe loẹt giống như tranh sơn dầu. Nhiều loại vàng kém chất lượng được dùng để đắp lên các họa tiết khiến cho hoa văn trang trí hiện ra như những mảng khảm lạc lõng và mất đi mục đích chính của nó là trang trí cho đồ sứ.
Trên những món đồ sứ Imari thời kỳ này có những đồ án trang trí miêu tả những con tàu hay những phong tục tập quán của Hà Lan. Nguyên nhân là vì đồ sứ Imari đã có mối quan hệ gần gũi với Hà Lan từ thời kỳ thứ nhất, khi đồ sứ Nhật Bản được Công ty Đông Ấn Hà Lan mua và xuất khẩu sang các nước khác, nhiều nhất là châu Âu. Tuy nhiên, nếu đồ Kakiemon ảnh hưởng phong cách châu Âu qua các đồ án vẽ hoa lá rất trau chuốt, thì trang trí trên đồ Imari tập trung phản ánh những phong cảnh, phong tục tập quán của nước ngoài. Đây là một đặc điểm cốt yếu của đồ Imari thời kỳ này.

Tô, đồ sứ Imari, trang trí hoa lá

Tô, đồ sứ Imari, trang trí hoa lá

Chóe, đồ sứ Imari, trang trí theo phong cách Akae Trung Hoa

Chóe, đồ sứ Imari, trang trí theo phong cách Akae Trung Hoa

Bình tứ giác, đồ sứ Imari, trang trí tứ quý

Bình tứ giác, đồ sứ Imari, trang trí tứ quý

Tượng geisha, đồ sứ Imari

Tượng geisha, đồ sứ Imari

Chóe lớn, đồ sứ Imari, trang trí long phụng và bách hoa. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

Chóe lớn, đồ sứ Imari, trang trí long phụng và bách hoa. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

Chóe bát giác, đồ sứ Imari, trang trí hoa lá. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

Chóe bát giác, đồ sứ Imari, trang trí hoa lá. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

3. Đồ sứ Kutani
Đồ Kutani phát triển qua hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất gọi là Ko-Kutani (Kutani cổ); thời kỳ thứ hai gọi là Shin-Kutani (Kutani mới).

Trong thời kỳ thứ nhất (1650 – 1690), đồ sứ Ko-Kutani và phát triển mạnh và nổi tiếng khắp Nhật Bản, cho dù thời gian tồn tại của nó chỉ khoảng 40 năm. Trong một thời gian ngắn như thế, nhưng Ko-Kutani đã đạt được vinh quang nhờ sự nỗ lực của Goto Saijiro, một lãnh chúa phong kiến đầy quyền lực. Sản phẩm Ko-Kutani gồm nhiều chủng loại, đa dạng về dáng kiểu và trang trí. Cội nguồn của những thành công này có thể được giải thích là nhờ việc tổ chức và quản lý trong các lò sứ Ko-Kutani tương tự như cách tổ chức và quản lý trong quan xưởng Cảnh Đức Trấn của Trung Hoa. Đội ngũ thợ thuyền, từ những người đảm trách việc nghiền đá, tinh lọc đất sét, tạo cốt… cho đến các họa sĩ trang trí, thợ đốt lò… đều là những chuyên gia trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình. Ngoài ra, còn có những người thợ được trưng tập từ Triều Tiên, Trung Hoa hay từ các địa phương của Nhật Bản như Kyoto, Hizen… Những người này đã vận dụng những kỹ thuật truyền thống từ quê hương bản quán của mình vào việc chế tác đồ Ko-Kutani, nhờ vậy mà dòng đồ này đã phát triển thịnh đạt trong một thời gian ngắn.

Về cốt thai, nhìn chung, chất lượng không cao như đồ Kakiemon. Xương sứ Ko-Kutani không được tinh lọc hoàn toàn và được bao phủ bằng một lớp men dày. Cốt sứ trắng đục và nhuốm màu đất sét. Trong thời kỳ đầu, cốt thai lẫn nhiều tạp chất. Nguyên nhân là do sự non kém về kỹ thuật và do chất lượng của loại đất sét dùng làm nguyên liệu. Tuy nhiên, chất lượng cốt sứ được cải tiến dần theo thời gian.
Về màu sắc, màu lam trên dòng đồ này hơi ngã về đen còn màu đỏ thì không tươi sáng như màu đỏ của đồ Kakiemon, mà là màu đỏ nhuốm đen và không bóng. Màu lục thì đậm và giống như màu nước ở những nơi sâu thẳm. Các màu khác cũng có tình trạng “đậm đà” tương tự. Tông màu sáng của dòng đồ Kakiemon và dòng đồ Nabeshima có thể gọi là “tông màu phương Nam”, trong khi tông màu tối và lạnh của đồ Ko-Kutani là “tông màu phương Bắc”. Đây là đặc điểm dễ nhận diện khi so sánh các dòng gốm màu này của Nhật Bản.
Về dáng kiểu, đồ Ko-Kutani có những kiểu bình có hình thù kỳ dị, là kết quả của sự biến dạng khi nung bởi sử dụng đất sét có độ nung chảy thấp. Song điều này lại tạo nên sự thích thú đối với sản phẩm và giúp cho việc hình thành kiểu thị hiếu mộc mạc đối với những người đam mê đồ Ko-Kutani.
Về họa tiết, trên đồ Kutani, những đường viền được thể hiện bởi những nét cọ lớn, vội vàng, mạnh mẽ và không đều nhau. Chúng viền quanh những chi tiết trang trí với màu đen, hay bị lấp kín bởi những mảng màu sắc như đã miêu tả trên đây.
Goto Saijiro là người khởi xướng dòng đồ Ko-Kutani và ông đã làm tất cả để cho dòng sản phẩm trở nên tốt nhất theo quan niệm của ông. Vì thế, ông cho áp dụng nhiều trường phái trang trí khác nhau lên đồ Ko-Kutani. Và trong khoảng thời gian 40 năm phát triển, trang trí trên đồ Ko-Kutani mang dấu ấn của nhiều trường phái: kiểu Akae Trung Hoa, kiểu Kakiemon và Imari của Arita… Song ông cũng tạo nên một phong cách độc nhất vô nhị của riêng ông.
Các nhà khảo cứu Nhật Bản đã nhận diện trang trí trên đồ sứ Ko-Kutani có các nhóm phong cách sau: phong cách Trung Hoa (ảnh hưởng trang trí của triều Vạn Lịch và triều Tuyên Đức thời Minh), phong cách Kano, phong cách Yamato, phong cách Imari (là những phong cách riêng của gốm sứ Nhật Bản), phong cách Ba Tư (ảnh hưởng từ văn hóa Ả Rập), phong cách Ai Ko-Kutani (với các sắc màu chàm rất đậm)…
Thời kỳ thứ hai của đồ Kutani bắt đầu từ năm 1820 trở đi. Những lò Kutani thuộc thời kỳ thứ nhất (Ko-Kutani) đã bị hoang phế trong suốt thời kỳ Genroku (1688 – 1703). Khoảng 130 năm sau, vào thời kỳ Bunka (1804 – 1817), Mokubei, một người thợ sứ xuất chúng, được mời từ Kyoto đến Kutani để chấn hưng kỹ nghệ gốm sứ nơi này. Mokubei đã giúp khôi phục một số lò sứ ở thung lũng Kutani và việc sản xuất đồ sứ ở Kutani bắt đầu hồi phục trở lại. Sự hồi phục của đồ sứ Kutani đã khai sinh ra dòng đồ Shin-Kutani (đồ Kutani mới), đồng thời tạo ảnh hưởng rất lớn đối với ngành gốm sứ trên toàn quốc. Theo đó, kỹ nghệ gốm sứ Nhật Bản đã hồi sinh và phát triển cho đến ngày nay. Mokubei đã phục hồi việc sản xuất đồ sứ tại Kutani từ sự sao chép hoàn toàn và chính xác các dòng đồ: Celadon, Akae, Sunkoroku (đồ gốm Xiêm La), Namban (đồ sứ phương Tây), Korai (đồ sứ Triều Tiên) và Ninsei (của Nhật Bản). Tất cả những dòng đồ này đang là mốt hiện hành ở Kyoto lúc bấy giờ. Vì thế đồ Shin-Kutani được xem như là một nhánh của đồ sứ Kyoto.
Một người thợ gốm của dòng đồ Wakasugi, chịu ảnh hưởng bởi phong cách Imari, đã chủ tâm làm ra những món đồ sứ mới phỏng theo đồ Ko-Kutani với mục đích phục hồi dòng đồ Ko-Kutani của thời kỳ thứ nhất. Ông đã phái một người thợ tên là Eiraku Wazen cùng với em trai của ông là Nishimura Sosaburo từ Kyoto đến Kutani để hợp tác sản xuất đồ sứ, và đã định hình một trường phái mới gọi là Eiraku-de tại Kutani.
Trên đại thể, có thể phân dòng sản phẩm Shin-Kutani này thành bốn nhóm dựa theo niên đại. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng và chịu ảnh hưởng từ bối cảnh xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ.
* Đồ Shin-Kutani thời kỳ Bunka và Bunsei (1804 – 1929)
Vào thời kỳ Bunsei, các phong tục tập quán trong xã hội Nhật Bản, của cả tầng lớp thượng lưu và hạ lưu, đều liên quan đến phái nữ trong xã hội, tuân thủ và phục tùng nữ giới vì đây là những người mang lại niềm vui cho xã hội Nhật Bản bấy giờ. Nguyên nhân là do đây là thời kỳ của chủ nghĩa hưởng lạc. Người Nhật hưởng thụ hòa bình trong suốt 200 năm, kể từ khi chính quyền Tokugawa chấp chính. Dòng sản phẩm mới của đồ sứ Kutani cũng bị cuốn vào trào lưu này, do vậy, đã mất đi những giá trị thực sự và sự trang trọng của đồ sứ Ko-Kutani truyền thống. Những đường viền trên đồ sứ cạn hơn, màu sắc không rõ ràng và xám xịt, cốt sứ thì nhẹ, cách nung thì cẩu thả, bố cục các chi tiết trang trí tầm thường. Tuy nhiên, với vẻ bề ngoài mềm mại, đồ Shin-Kutani trong thời kỳ này cũng thể hiện được đôi chút thanh nhã và phù hợp với thị hiếu hiện thời của người Nhật.
* Đồ Shin-Kutani thời kỳ Tempo (1830 – 1843)
Vào thời gian này, văn học lãng mạn Trung Hoa có ảnh hưởng rất lớn đến thị hiếu của người Nhật, đến mức có những người Nhật đã dùng cách đặt tên hay cách phát âm của người Trung Hoa trong tên gọi của mình. Những người thợ làm đồ sứ ở Kutani cũng chịu tác động bởi ảnh hưởng này. Họ làm theo phong cách của đồ Akae Trung Hoa, dưới sự giám hộ của những giám quản đến từ Kyoto. Những người này đã lựa chọn những đồ án hay chi tiết trang trí từ các cuốn sách của Trung Hoa để làm mẫu cho đồ sứ. Màu đỏ và màu hoàng kim được thể hiện trên trên một nền màu vàng lòng đỏ trứng gà và không sáng, được cho là rất hiệu quả. Cốt sứ cũng đã đạt đến mức “bán thấu quang” nhờ sự nóng chảy một phần của nguyên liệu.
* Đồ Shin-Kutani trong cuộc cải cách Minh Trị (1868)
Trong cuộc cải cách của Thiên hoàng Minh Trị (Meiji), nhiều hệ tư tưởng khác biệt của hai nền văn minh phương Đông và phương Tây đều được giới thiệu và hòa quyện với nhau ở Nhật Bản. Trong bối cảnh đó, đồ sứ Shin-Kutani cũng theo trào lưu của thời đại, sáng tạo ra một kiểu trang trí mới, sử dụng màu đỏ theo kiểu Trung Hoa, kết hợp với những nước men theo kiểu châu Âu, màu đỏ và trắng theo kiểu truyền thống của Kutani. Riêng màu đen trong thời kỳ này không còn bóng như trước. Điều này khiến cho giá trị nghệ thuật của đồ Kutani bị suy giảm đáng kể.
* Đồ Shin-Kutani sau cải cách Minh Trị (từ 1868 trở đi)
Từ sau cuộc cải cách Minh Trị cho đến ngày nay, những người làm chế tác đồ sứ Kutani liên tục thí nghiệm và cải tiến sản phẩm của mình. Đầu tiên là ứng dụng các kỹ thuật châu Âu để làm ra những món đồ sứ gia dụng, phân phối khắp Nhật Bản và xuất khẩu với quy mô lớn đến các vùng khác trên thế giới. Điều này đã làm nên tên tuổi của đồ sứ Kutani. Tuy nhiên, những đặc trưng truyền thống của dòng đồ Ko-Kutani đã hoàn toàn biến mất, thay vào đó là rất nhiều khiếm khuyết, về cả màu sắc, trang trí và chất lượng sản phẩm. Điều đáng tiếc là người ta đã không giới thiệu với khách hàng nghệ thuật tuyệt vời của dòng đồ Ko-Kutani mà chỉ đưa đến cho họ một diện mạo khác hẳn của dòng đồ sứ nổi danh một thuở này.

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí nhân vật ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí nhân vật ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí hoa lá ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí hoa lá ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí đôi chim ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Dĩa, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí đôi chim ở trung tâm và hồi văn bên ngoài

Nậm rượu, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí bảy loại thảo mộc quý theo phong cách Akae Trung Hoa

Nậm rượu, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí bảy loại thảo mộc quý theo phong cách Akae Trung Hoa

Kutani 257: Nậm rượu hai eo, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí hoa và bát bửu

Nậm rượu hai eo, đồ sứ Ko-Kutani, trang trí hoa và bát bửu

4. Đồ sứ Nabeshima
Dòng đồ sứ Nabeshima được khởi lập từ năm 1722, dưới thời Kyoho và kéo dài cho đến tận cuộc cải cách Minh Trị (1868). Đây là dòng đồ sứ tương đối thuần nhất, với những đặc trưng khác riêng biệt và là dòng đồ sứ cao cấp của Nhật Bản.
Đồ sứ Nabeshima có cốt thai rất mịn. Màu men phủ nghiêng về sắc chàm (Gosu), không quá sáng nhưng rất mượt mà và không lòe loẹt. So sánh với đồ Kakiemon, cốt sứ Nabeshima có màu xanh nhẹ hơn, nhưng lại trắng hơn so với cốt thai của đồ Imari. Phần men bao phủ cũng như phần nền dùng để trang trí đạt đến sự tinh tế nhờ màu men bóng và sự đều đặn tuyệt đối của lớp phủ bề mặt.
Về dáng kiểu, phần lớn sản phẩm của lò Nabeshima là những đồ dùng hàng ngày, đa phần là dĩa và rất phù hợp với thị hiếu của giới quý tộc. Những cái dĩa thể hiện nét đặc trưng của đồ sứ Nabeshima: phần chính giữa có xương sứ rất dày và mỏng dần về phía mép dĩa. Có sự khác biệt đáng kể về độ dày giữa phần trong và phần ngoài của dĩa. Mức độ uốn cong trên bề mặt bên trong là rất lớn, nhưng nhìn từ phía đáy thì trông có vẻ hoàn toàn bằng phẳng. Tuy nhiên, đó không phải là một mặt phẳng thật sự, mà chỉ là cách phô bày những đường cong nhẹ nhàng và tinh tế. Bất cứ ai quan sát mặt bên trong của đồ Nabeshima đều phải tấm tắt khen ngợi vẻ đẹp của món đồ. Sự khác nhau về những đường cong của mặt trong và mặt ngoài được thể hiện một cách cân xứng và dễ chịu. Vì thế, dáng kiểu của dòng đồ Nabeshima rất trau chuốt, trông rất duyên dáng và có giá trị thẩm mỹ cao. Nếu đồ Ko-Kutani hấp dẫn bởi các chi tiết trang trí đầy màu sắc và vẻ mộc mạc mạnh mẽ của nó, thì đồ sứ Nabeshima lại cuốn hút bởi yếu tố tuyệt vời và tao nhã của nó. Thực tế là dòng sản phẩm Nabeshima chỉ phục vụ cho nhu cầu hàng ngày của tầng lớp trên hoặc chỉ được dùng để làm quà. Họ chỉ lựa chọn những tác phẩm đẹp nhất và đập bỏ những sản phẩm kém hoàn hảo. Một lý do khác là họ chỉ dùng loại đất sét có chất lượng tốt nhất với những người thợ có kỹ thuật tuyệt vời nhất để tạo ra đồ sứ Nabeshima.
Về màu sắc, giữa màu đỏ dùng trong trang trí của đồ sứ Nabeshima và những màu đỏ của dòng đồ Ko-Kutani và Kakiemon có một sự khác biệt rõ ràng. Màu đỏ của Nabeshima là màu đỏ thắm, trong khi màu đỏ của đồ Ko-Kutani và Kakiemon thuộc nhóm màu đỏ thẩm. Nó duyên dáng hơn và quyến rũ hơn vẻ sáng sủa của đồ Kakiemon. Nó không pha với màu đen hay màu đỏ tía của đồ Ko-Kutani, và trông hơi cổ. Nó đạt đến sự tinh xảo và tráng lệ. Màu men xanh và vàng của đồ Nabeshima được vẽ dày bóng hơn, trong hơn so với đồ Kakiemon và Ko-Kutani. Đồ Nabeshima nổi tiếng nhờ sự hài hòa về màu sắc. Ngay cả đồ sứ Ko-Kutani, Imari và đồ Trung Hoa không bao giờ sánh kịp đồ Nabeshima về vẻ đẹp và sự hài hòa màu sắc.
Màu sắc trên đồ Nabeshima thường được giới hạn trong ba màu: đỏ, lục và vàng, với sự ngoại lệ là lớp nền tráng men màu chàm. Thi thoảng màu tím và màu đen cũng được dùng đến, nhưng rất hiếm. Sự hài hòa màu sắc trên dòng đồ Nabeshima chính là nhờ việc bố trí ba màu đỏ, lục và vàng một cách cân đối và hợp lý. Điều điều tuyệt này là kết quả của một sự trải nghiệm thú vị, từ sự mô phỏng dòng đồ Akae của Trung Hoa dưới thời Ung Chính (1723 – 1735) và thay đổi cho phù hợp với sở thích của người Nhật. Có thể so sánh màu sắc trên đồ sứ Nabeshima với màu sắc trên những bức tranh của Harunobu, một trong những nghệ sĩ nổi tiếng thế giới về nghệ thuật tranh khắc gỗ (Ukiyoe) của Nhật Bản. Đó là một thành công tuyệt vời khi thể hiện một cách khéo léo những đặc điểm của nền văn hóa Yedo rực rỡ với rất ít màu sắc như thế. Trong hoàn cảnh đó, chính hình dáng và những nét vẽ tự nhiên đã đóng một phần quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa của màu sắc.
Về trang trí, các nhà nghiên cứu mỹ thuật Nhật Bản đã thống nhất định danh một phong cách trang trí của dòng đồ này và gọi đó phong cách Nabeshima. Trong thời kỳ đầu, trang trí trên đồ sứ Nabeshima chịu sự ảnh hưởng của các trường phái như: trường phái Kano (với các đồ án phong cảnh), trường phái Imari (với các kiểu trang trí đường lượn bao phủ bề mặt sản phẩm với ba màu: đỏ, lục và vàng); và trường phái Kakiemon (với các kiểu hoa văn do Shibuemon, người đã thành công trong việc pha trộn Kakiemon và Imari, sáng tạo nên). Điều này là do có thể vào thời kỳ đầu của Nabeshima, người ta đã mời nhiều chuyên gia từ những lò của Kakiemon về trợ giúp, và tất nhiên, những nét đặc trưng của Kakiemon đã được thể hiện trên dòng đồ Nabeshima.
Tuy nhiên, ở thời kỳ đỉnh cao, đã có một phong cách Nabeshima thực sự. Những nghệ nhân của Nabeshima, từ cảm nhận tự nhiên, đã đưa vào các đồ án trang trí những chi tiết thích hợp và loại bỏ những gì không cần thiết. Họ chú trọng đến việc bố trí các chi tiết trang trí vào những chỗ cong của cái dĩa, hơn là sáng tác một chi tiết cho phù hợp với đồ án trang trí. Họ đưa lên món đồ hình ảnh giản lược của các loại hoa và các loại thực vật, có thể là một cái cây lớn nhưng đơn độc, hay một bông hoa riêng lẽ trên bề mặt của chiếc dĩa và để dành phần diện tích còn lại cho lớp men phủ màu trắng đục rất đẹp. Những họa sĩ của dòng đồ Nabeshima đã có công lao thực sự khi họ thể hiện chính xác sở thích của người Nhật đối với đồ sứ và rủ bỏ hoàn toàn những phụ thuộc vào văn hóa Trung Hoa. Hầu hết trang trí trên đồ Nabeshima là thực vật và hoa, đôi khi là các loài chim nhưng rất hiếm hình ảnh của các loài thú. So sánh các kiểu trang trí trên đồ sứ với những trường phái hội họa qua các thời kỳ, các nhà nghiên cứu mỹ thuật Nhật Bản cho rằng đồ Kutani ảnh hưởng bởi trường phái Kano học theo nghệ thuật Trung Hoa; đồ Kakiemon liên quan đến trường phái Tossa của Yamato-e; đồ Imari thì liên quan đến thể loại cảnh vật của thời Momoyama hoặc cảnh vật trên tranh khắc gỗ Ukiyoe. Trong khi đó, đồ Nabeshima lại chịu ảnh hưởng của trường phái Korin hay Shijo.
Đặc điểm quan trọng nhất của những trang trí trên đồ Nabeshima là sự hài hòa tuyệt vời của những chi tiết trang trí với hình dáng tương ứng của món đồ. Đó là những đường nét mảnh mai thể hiện những đám cỏ và những bông hoa, hài hòa với đường cong của bề mặt chiếc dĩa. Dù chỉ những đường kẻ mềm mại nhưng đậm nét và mạnh mẽ. Chiếc dĩa và những hoa văn hài hòa tuyệt vời đến mức có xu hướng hoài nghi rằng trang trí gốc được vẽ ngay trên chiếc đĩa. Màu sắc trên các món đồ Nabeshima có tông màu trầm hơn ở vùng trung tâm và sáng dần về phía bờ mép.
Ngoài những trang trí chủ ý từ trước còn có những núm tua, xoáy nước, quả bầu và các kiểu hoa văn làm nổi bật sự hài hòa giữa màu sắc, đường nét với bề mặt uốn cong của sản phẩm. Đây là một đặc điểm riêng biệt của dòng Nabeshima. Vì thế, mỗi trang trí đều có sự phù hợp tuyệt vời với màu sắc và hình dáng của sản phẩm. Ba điều này đã tạo nên sự hoàn hảo cho dòng đồ sứ nổi danh này. Có thể nói rằng, đồ sứ Nabeshima có thể sánh ngang với những sản phẩm của Trung Hoa được chế tác trong các quan xưởng ở Cảnh Đức Trấn dưới triều Ung Chính. Và đây là những sản phẩm phản ánh chân xác sở thích của giới quý tộc Nhật Bản đương thời.
Vành chân đế và mặt ngoài của các sản phẩm Nabeshima cũng được trang trí bởi những đường viền màu chàm, hay là những kẻ hình gân lá cùng với những trang trí màu xanh và men phủ màu vàng. Kiểu trang trí này là một bằng chứng về sự ảnh hưởng của đồ Akae Ung Chính đối với trang trí trên đồ Nabeshima. Cùng với kiểu dáng, màu sắc, hoa văn, những đường kẻ này đã góp phần tạo nên một vẻ đẹp hài hòa và nét thanh nhã tuyệt mỹ của dòng đồ Nabeshima.

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hoa lá

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hoa lá

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hoa lan

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hoa lan

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí lan thạch

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí lan thạch

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hồi văn hình bông hoa

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí hồi văn hình bông hoa

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí 4 kiểu hồi văn phối hợp

Dĩa, đồ sứ Nabeshima, trang trí 4 kiểu hồi văn phối hợp

Đồ sứ màu Nhật Bản du nhập vào Việt Nam từ rất sớm thông qua các hoạt động giao thương dưới thời chúa Nguyễn. Trong kho của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế hiện vẫn còn lưu giữ ba cái chóe và một số dĩa vẽ màu thuộc dòng đồ Imari có niên đại thế kỷ XVII. Ngoài ra còn có những số bộ đồ trà kiểu Shin-Kutani được nhập vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX.

Nhiều nhà sưu tập ở Hà Nội, Sài Gòn cũng đang sở hữu những bộ sưu tập đồ sộ gồm những bình, chóe, lọ, dĩa thuộc các dòng đồ: Imari, Kakiemon, Ko-Kutani và nhiều nhất là đồ Satsuma, một dòng đồ sứ Nhật xuất xứ từ vùng Satsuma xưa, nay là tỉnh Kasoshima ở phía nam Nhật Bản.

Chóe lớn, đồ sứ Satsuma, trang trí rồng và nhân vật. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

Chóe lớn, đồ sứ Satsuma, trang trí rồng và nhân vật. Sưu tập Nguyễn Quang Vinh, TP. Hồ Chí Minh

Song rất hiếm người có được những món đồ sứ Nhật Bản thuộc dòng Nabeshima vì đây là một dòng đồ cao cấp và hiếm khi xuất khẩu ra bên ngoài. Trong trào lưu chung, đồ Tàu, đồ ta ngày càng khan hiếm, giá lại quá đắt. Vì thế, nhiều nhà sưu tập bắt đầu quan tâm đến dòng đồ màu Nhật Bản. Có lẽ, trong giới chơi cổ ngoạn Việt Nam, “thời” của đồ sứ màu Nhật Bản đang đến rất gần.

T.Đ.A.S.

 * Thông tin trong bài chủ yếu dựa vào cuốn sách: Japanese Coloured Porcelain: An Introductory Explanation của Yuzo Yamane, do Kyoto Shoin Co.,LTD xuất bản vào năm 1997.

Bài này đã được đăng trong Di sản văn hóa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s