NHẬT BẢN LÂU VÀ ĐỒ SHIPOUYAKI Ở BRUXELLES

Trần Đức Anh Sơn

Trong thế giới cổ ngoạn có một loại cổ vật cốt làm bằng kim loại, bên ngoài tráng men nhiều màu, người Trung Hoa gọi là falang (âm Hán Việt là pháp lang), còn người Việt Nam thì gọi là pháp lam.

Nguồn gốc của công nghệ chế tác pháp lang xuất phát từ nước Đại Thực ở Tây Vực (tức vùng đất A Rập – Tây Á vào thời Tống – Nguyên, nay thuộc Iran và Afganistan), theo vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ mà du nhập vào Trung Hoa từ thế kỷ XIII. Vì thế, tên gọi đầu tiên của loại chế phẩm này là Đại Thực diêu. Vì là sản phẩm quốc ngoại, nên người Trung Quốc gọi chúng là Quỷ quốc diêu (đồ xứ Quỷ). Từ tên gọi ban đầu là Đại Thực diêu, hay Quỷ quốc diêu, qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, những đồ đồng tráng men này được đặt cho nhiều tên gọi khác nhau như phát lam, phật lang, phất lang, pháp lang.

Ngày nay, pháp lang là tên gọi chung của tất cả các chế phẩm có thai cốt làm bằng đồng, được phủ một hoặc nhiều lớp men màu, rồi đem nung mà thành. Tùy theo phương pháp chế tác thai cốt (dán chỉ đồng hay chạm trổ trực tiếp lên cốt đồng) và phương thức tráng men (phủ men vào các ô trũng hay trực tiếp vẽ các họa tiết trang trí bằng men màu lên bề mặt cốt đồng) mà người ta phân định chế phẩm pháp lang 4 dòng: kháp ti pháp lang (pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc); họa pháp lang (pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa); tạm thai pháp lang (pháp lang có cốt được chạm trổ) và thấu minh pháp lang (pháp lang có phủ lớp men trong bên ngoài). Riêng đồ kháp ti pháp lang, từ đời Minh Cảnh Thái (1450 – 1457) trở đi, thường được gọi là đồ Cảnh Thái lam.

Từ thời mạt Minh (thế kỷ XVII), đồ Cảnh Thái lam và đồ thấu minh pháp lang của Trung Quốc du nhập vào Nhật Bản và người Nhật nhanh chóng nắm bắt kỹ nghệ chế tác hai dòng pháp lang này. Tuy nhiên, do thiên khiếu mỹ thuật riêng biệt, người Nhật chỉ chuyên tâm sản xuất thấu minh pháp lang và dùng danh xưng shipouyaki để gọi tên những chế phẩm này. Shipouyaki là âm Hán – Hòa của 3 chữ 七宝燒, mà người Việt đọc là thất bửu thiêu, nghĩa là “bảy thứ quý thiêu đốt mà thành”. Danh xưng này chứng tỏ người Nhật coi pháp lang do họ làm ra như những báu vật trân quý.

Tuy tiếp thu công nghệ chế tác pháp lang từ Trung Hoa, nhưng đồ shipouyaki của người Nhật đạt đến mức thượng thừa về mỹ thuật lẫn kỹ thuật. Điều thú vị là những món shipouyaki do người Nhật sản xuất theo công nghệ phỏng chế của Trung Hoa lại được xuất khẩu trở lại vào Trung Quốc và rất được người Hoa ưa chuộng. Triệu Nhữ Trân, một nhà nghiên cứu mỹ thuật người Trung Hoa, tác giả cuốn Trung Quốc cổ ngoạn đại quan đã thừa nhận: “Đồ pháp lang (Trung Hoa), không sáng trong óng mượt như đồ thất bửu thiêu (Nhật Bản)… Sắc độ pháp lang sáng rỡ, nhưng không thấu minh. Sắc độ thất bửu thiêu nhờ thấu quang dưới lớp pha lê trong suốt nên sáng trong lóng lánh mượt mà” (Lý Thân dịch). Lý do của sự khác biệt này là do kỹ thuật chế tác: pháp lang Trung Quốc dùng chất pha lê tán thành bột rồi trộn với các chất phát màu có gốc kim loại pha với chất dầu thành một thứ hồ nhão, phết lên bề mặt thai cốt khảm chỉ đồng rồi đem nung. Trong khi đó, người Nhật luôn tráng lót một lớp oxide chì hoặc oxide thủy ngân lên cốt để chống rỉ sét, trước khi dùng màu tạo họa tiết, rồi mới đem nung. Nhờ vậy mà đồ shipouyaki của Nhật bản luôn bóng mượt lộng lẫy.

Từ đầu thế kỷ XVIII, người Nhật xuất khẩu đồ shipouyaki đi khắp thế giới, nhiều nhất là đến châu Âu. Các hoàng gia ở châu Âu đua nhau mua đồ shipouyaki của Nhật Bản đem về chưng trong các cung điện của mình. Năm 1851, tại Cung điện Pha lê (Crystal Palacce) ở London diễn ra một cuộc triển lãm mang tên Universal Exhibition. Người Nhật đã đưa gần 1000 món đồ sứ, đồ sơn mài và đồ shipouyaki tham dự cuộc triển lãm này. Năm 1855, cuộc triển lãm được đưa sang Paris và sau đó đi quanh châu Âu với tên gọi là Tour du Monde kéo dài cho đến những năm cuối thế kỷ XIX. Thành công vang dội của Tour du Monde và sự hấp dẫn của những cổ ngoạn Nhật Bản đã khiến vua Léopold II của Vương quốc Bỉ quyết định mua lại toàn bộ những cổ ngoạn Trung Hoa và cổ ngoạn Nhật Bản tham dự Tour du Monde, mang về trưng bày tại Bruxelles. Ông cho mời Alexandre Marcel (1860 – 1928), kiến trúc sư nổi danh người Paris sang Bỉ kiến thiết hai tòa lâu đài bằng gỗ là Trung Hoa lâu (Pavillon chinois) và Nhật Bản lâu (Pavillon japonais) để trưng bày các món đồ Trung Quốc và Nhật Bản vừa mua. Đây là hai công trình kiến trúc theo phong cách châu Á đẹp nhất hiện hữu ở Vương quốc Bỉ; cũng là nơi trưng bày hai sưu tập cổ ngoạn Trung Quốc và Nhật Bản trứ danh nhất châu Âu hiện nay.

Nhật Bản lâu ở Bruxelles (Bỉ)

Nhật Bản lâu ở Bruxelles (Bỉ)

Đồ Imari trưng bày trong Nhật Bản lâu

Đồ Imari trưng bày trong Nhật Bản lâu

Gian trưng bày đồ Ko-Kutani và đồ sometsuke của Nhật Bản

Gian trưng bày đồ Ko-Kutani và đồ sometsuke của Nhật Bản

Đồ gốm akaemono trưng bày trong Nhật Bản lâu

Đồ gốm akaemono trưng bày trong Nhật Bản lâu

Một phần nội thất Nhật Bản lâu

Một phần nội thất Nhật Bản lâu

Trang trí trên trần nhà bên trong Nhật Bản lâu

Trang trí trên trần nhà bên trong Nhật Bản lâu

Năm 2004, có dịp đến Bruxelles, tôi tranh thủ ghé thăm hai tòa lâu đài này. Khi bước chân vào Nhật Bản lâu, cô thuyết minh tưởng tôi là người Nhật nên đon đả: “Hoan nghênh ông đến Bruxelles để thăm lại những quốc bảo của dân tộc mình mà người Bỉ chúng tôi đã dày công gìn giữ, bảo vệ”. Rồi cô thao thao bất tuyệt nói về các cổ vật Nhật Bản đang trưng bày nơi đây, mà theo cô “là sưu tập hoàn hảo nhất, có một không hai trên thế giới”. Quả thật, trong Nhật Bản lâu hiện diện tất cả những gì tinh túy của nhất của nền thủ công mỹ nghệ Nhật Bản: từ lối kiến thiết lầu các; kiểu thức bày biện nột thất mang đậm tố chất Nhật Bản; đến các sưu tập đồ gốm Imari, đồ sứ Ko-Kutani; đồ urushi (sơn mài Nhật Bản)… vô cùng giá trị. Song đặc sắc nhất vẫn là sưu tập hơn 100 món shipouyaki. Tôi đã tham khảo rất nhiều sưu tập shipouyaki ở Nhật Bản, Trung Hoa và một vài nước Âu châu như Pháp, Đức… nhưng không đâu có được bộ sưu tập hoàn hảo như ở đây.

Phần lớn đồ shipouyaki trưng bày nơi đây đều có niên đại vào đầu thế kỷ XIX, lúc kỹ nghệ chế tác shipouyaki của người Nhật đạt đến đỉnh cao. Họ chủ động trong việc tạo màu sắc, linh hoạt trong thể hiện họa tiết, sáng tạo trong kỹ nghệ phối màu và tinh tế trong việc tạo dáng sản phẩm. Nhật Bản là một dân tộc thích “bày biện”. Do vậy, trong khi người Trung Hoa thích tạo ra những sản phẩm pháp lang kích thước lớn như lư, đỉnh, vạc, bồn… để tăng sự uy nghi, thì người Nhật lại thích tạo ra những chế phẩm xinh xắn như bình, lọ, hũ… dùng cho nhu cầu trang trí, bày biện trong nội thất, đặc biệt là các kiểu mai bình vẽ hoa điểu và muông thú.

Xin giới thiệu với quý vị một số trân bảo trong sưu tập đồ shipouyaki đang trưng bày trong Nhật Bản lâu ở Bruxelles (Bỉ).

Shipouyaki 19Shipouyaki 10Shipouyaki 11Shipouyaki 12Shipouyaki 21Shipouyaki 20Shipouyaki 22Shipouyaki 23Shipouyaki 24Shipouyaki 25Shipouyaki 26Shipouyaki 27Shipouyaki 16Shipouyaki 15Shipouyaki 14Shipouyaki 13Shipouyaki 17Shipouyaki 18

Shipouyaki 09

Bài này đã được đăng trong Di sản văn hóa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s