VƯƠNG PHỦ – NHÀ VƯỜN XỨ THẦN KINH

Trần Đức Anh Sơn

Kỳ 2. VƯƠNG PHỦ CỦA THI ÔNG, THI BÁ

Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán

Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường

Thời tiền Hán (ở Trung Hoa) vốn nổi tiếng về văn từ, nhất là lối văn chép sử, mà Sử ký của Tư Mã Thiên (145 – 86 trước Công nguyên) và Hán thư của Ban Cố (32 – 92 sau Công nguyên) là tuyệt đỉnh; còn thời thịnh Đường thì nổi tiếng với hàng vạn bài Đường thi và hàng trăm tác gia lừng danh, trong đó có Đỗ Phủ (712 – 770) được suy tôn là “thi thánh”, có Lý Bạch (701 – 762) được xưng tụng là “thi tiên”. Thế mà, so với văn của Nguyễn Văn Siêu (1799 – 1872) và Cao Bá Quát (1809 – 1855) thì văn thời tiền Hán cũng vô nghĩa; so với thơ của Tùng Thiện vương Miên Thẩm (1819 – 1870) và Tuy Lý vương Miên Trinh (1820 – 1897), thì thơ thời thịnh Đường cũng không theo kịp.

Trong bốn danh sĩ trên, thì Tùng Thiện vương Miên Thẩm và Tuy Lý vương Miên Trinh là hai vị hoàng tử con vua Minh Mạng (1820 – 1841). Đó cũng là hai ông hoàng của thi ca thời Nguyễn. Hai ông được người đương thời tôn vinh là Thi Ông (Tùng Thiện vương) và Thi Bá (Tuy Lý vương). Vương phủ của hai ông nay vẫn lưu dấu nơi xứ Huế, trở thành những di tích lịch sử văn hóa của cố đô.

1. Theo sách Tùng Thiện vương (Ưng Trình và Bửu Dưỡng biên soạn, xuất bản năm 1970), thì: “Theo lệ, các hoàng tử lên 18 tuổi thì phải xuất phủ, nghĩa là phải ra ngoài Tử Cấm Thành, biệt lập gia đình như Võ Xuân Cẩn đã tâu, xin ơn cho các hoàng thân, hoàng tử. Tùng Thiện vương xuất phủ ở ngang với phủ Tuy Lý vương, tại phường Liêm Năng trong Kinh Thành, phía đông Lục Bộ…”. Phường Liêm Năng ở bên trong Thành Nội. Phủ của hai ông hoàng Miên Thẩm và Miên Trinh tọa lạc ở phía sau Cơ Mật Viện.

Dù đã được triều đình ban đất để dựng vương phủ ở trong Kinh Thành, kế bên Hoàng Thành, nhưng ông hoàng Miên Thẩm vẫn muốn được thoát khỏi vòng cương tỏa của hoàng gia, về sinh sống nơi thôn dã để tiện bề giao lưu thi phú với các tao nhân, mặc khách bên ngoài Kinh Thành. Vì thế, năm 1846, Miên Thẩm, bấy giờ đang thụ tước Tùng Quốc công, đã bỏ tiền riêng mua một khoảnh đất rộng ở bên dòng sông Lợi Nông (sông An Cựu), tự tay kiến thiết, xây dựng, đắp núi đào hồ, lập nên Tiêu viên và rước mẹ là bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo từ trong Đại Nội về đây để ông chăm sóc, phụng dưỡng.

Tùng Thiện vương từ môn

Tùng Thiện vương từ môn

Cây hoàng mai gần 140 năm tuổi trong phủ Tùng Thiện vương

Cây hoàng mai gần 140 năm tuổi trong phủ Tùng Thiện vương

Năm 1849, Tiêu viên được đổi tên thành Ký Thưởng viên. Đó là một vương phủ bề thế và quy mô, cả trong lẫn ngoài có đến 16 công trình kiến trúc, như: Thương Hà Bạch Lộ đường (nơi tiếp đãi sĩ phu, cũng là nơi tiếp nhận các bản thảo thi văn của vua Tự Đức do Thị vệ chuyển từ Đại Nội sang để Tùng Quốc công nhuận sắc giúp vua), Mô trường (nơi Tùng Quốc công cùng các huynh đệ, bằng hữu, con cháu, học trò ngâm vịnh thi phú), Bạch Bí (nơi ở của các bà vợ của Tùng Quốc công), Tùng Vân (thư phòng để thơ văn và bút nghiên), Cổ Cầm đình (nơi Tùng Quốc công đàn hát, đánh cờ, chơi mạt chược với gia nhân và bằng hữu), Mặc Vân sào (nơi lưu trữ và tra cứu kinh, sử, tử, truyện của Nho giáo), Xuy Tiêu ủy (nơi Tùng Quốc công thường thổi sáo trúc cùng các nghệ nhân), Sở Tụng đình (vườn trồng cam, quýt, bưởi, phật thủ…), Hàn Lục hiên (vườn trồng hoa), Vô Phi tân tạ (nhà tắm nằm bên cạnh hồ nước có dựng giả sơn), Nhất Quyên thạch (cầu đá được bắc qua hồ nước để ngắm cảnh), Không Minh bộ (đường đi dạo quanh Ký Thưởng viên), Thanh Tịnh thối (cửa đi vào phủ, về sau đổi gọi là Tùng Thiện vương từ môn), Bến phủ (bến nước trước phủ, dân gian vẫn gọi là “bến phủ Tùng”, nơi có chiếc thuyền buồm nhỏ để Tùng Quốc công dạo chơi trên sông Lợi Nông và sông Hương)…

Phủ thờ bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo, thân mẫu Tùng Thiện vương, trong khuôn viên của phủ

Phủ thờ bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo, thân mẫu Tùng Thiện vương, trong khuôn viên của phủ

Ký Thưởng viên không phải là một vương phủ kín cổng cao tường như các phủ đệ khác. Đây là chốn tụ hội của giới văn nghệ sĩ xứ Huế đương thời, nơi gặp gỡ của tao nhân mặc khách: “Không ngày nào số văn nhân hội họp không dưới nửa trăm người. Tùng Thiện vương cũng như một vị Mạnh Thường Quân nho nhỏ”. Chính tại Ký Thưởng viên, Tùng Quốc công đã lập nên Tùng Vân thi xã, về sau đổi thành Mặc Vân thi xã, quy tụ các văn nhân tên tuổi ở Huế đô, cùng nhau sáng tác và ngâm vịnh thi phú.

Án thờ vua Minh Mạng bên trong phủ thờ bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo

Án thờ vua Minh Mạng bên trong phủ thờ bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo

Nội thất phủ thờ bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo

Nội thất phủ thờ bà Thục tần Nguyễn Thị Bảo

Năm 1849, Án sát tỉnh Quảng Tây là Lao Sùng Quang được nhà Thanh cử làm Khâm sứ, dẫn đầu sứ bộ của Thanh triều đến kinh đô Huế để tuyên phong cho vua Tự Đức (1848 – 1883). Đây là lần đầu tiên một sứ bộ của nhà Thanh trực tiếp đến Huế để tuyên phong cho một vị vua triều Nguyễn, thay vì vua Nguyễn phải ra Hà Nội để thụ phong như trước đây. Lao Sùng Quang là tiến sĩ đệ nhị giáp của Trung Hoa, có tiếng là người “văn hay chữ tốt”. Vì thế, trước ngày Lao Sùng Quang đến Huế, vua Tự Đức và triều thần đã sai Nội các và Hàn Lâm viện tuyển chọn những kiệt tác văn chương của các danh sĩ triều Nguyễn như: vua Tự Đức, Miên Thẩm, Miên Trinh, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản, Hà Tôn Quyền… in thành tập Phong nhã thống biên, vừa làm “quà” nghênh tiếp Lao Sùng Quang, vừa “ngầm khoe” văn tài của học giới nước Việt bấy giờ.

Phủ thờ Tùng Thiện vương

Phủ thờ Tùng Thiện vương

Lao Sùng Quang đến Huế, sau khi đọc tặng phẩm Phong nhã thống biên, thì lấy làm nể phục các văn nhân, danh sĩ của triều Nguyễn, đặc biệt là với Tùng Quốc công Miên Thẩm, người có nhiều thơ văn được tuyển in trong Phong nhã thống biên. Vì thế, ở Huế chưa được mấy hôm, Lao Sùng Quang đã thân hành tìm đến Ký Thưởng viên để đàm đạo văn chương thế sự với Tùng Quốc công. Cuộc bút đàm giữa Thi Ông nước Đại Nam với vị tiến sĩ nước Đại Thanh ở Ký Thưởng viên là một sự kiện trọng đại đối với vương phủ này. Chính ở nơi này, Lao Sùng Quang đã viết hai câu thơ ngợi khen văn tài của Thi Ông: “Độc đáo bạch âu hoàng diệp cú. Mãn hoài tiêu sắt đái thu hàn” (Ưng Trình và Bửu Dưỡng dịch thơ: Đọc đến câu ‘Bạch âu hoàng diệp’. Cả người ớn lạnh với hơi thu). Về sau khi viết lời tựa cho cuốn Thương Sơn thi tập của Tùng Thiện vương, Lao Sùng Quang đã viết: Thương Sơn nhất lão, thiên đãi dĩ chi thức thị. Nam bang khởi đắc, cẩn đại thi nhân mục chi da”. (Ưng Trình và Bửu Dưỡng dịch thơ: Trời sinh Thương Sơn để làm gương cho người Việt. Nào ai dám coi ông như một thi hào mà thôi). Thương Sơn là bút hiệu chính của Miên Thẩm.

Án thờ và chân dung Tùng Thiện vương

Án thờ và chân dung Tùng Thiện vương

Năm 1854, Thi Ông Miên Thẩm được phong là Tùng Thiện công. Năm 1868, nhân mừng thọ ông 50 tuổi, vua Tự Đức ban cho ông vàng bạc, gấm lụa, rượu trà, văn phòng tứ bảo và làm bài thơ Hoài công (Nhớ Tùng Thiện công) ban cho ông và ông đã họa lại để cảm từ.

Tùng Thiện công Miên Thẩm qua đời 30.4.1870, hưởng thọ 52 tuổi, có 20 con trai và 12 con gái. Năm 1878, vua Tự Đức truy tặng ông là Tùng Thiện quận vương. Năm 1924, vua Khải Định truy tặng ông là Tùng Thiện Vương.

Nội thất phủ thờ Tùng Thiện vương

Nội thất phủ thờ Tùng Thiện vương

Sau ngày Thi Ông qua đời, Ký Thưởng viên trở thành Tùng Thiện vương từ, thường được gọi là phủ Tùng Thiện vương. Đây là nơi thờ phụng Thi Ông và thân quyến của ông. Những lầu tạ, đình các, thư hiên… trong Ký Thưởng viên xưa không còn nữa, thay vào đó là hai tòa phủ thờ: tòa phía trước thờ bà Thục tân Nguyễn Thị Bảo, thân mẫu của Tùng Thiện vương; tòa phía sau thờ Thi Ông và các thành viên trong gia quyến.

Phủ Tùng Thiện vương nay tọa lạc ở số 91, đường Phan Đình Phùng, thành phố Huế. Bên trong những cánh cửa gỗ màu đỏ luôn luôn khép kín của từ môn và vòng tường thành rêu phong phủ kín là một cõi riêng tôn kính và hoài niệm về Thi Ông. Sau bình phong “lưỡng long triều phúc” án ngữ ở đằng trước là hai tòa phủ thờ uy nghi. Đây cũng là nơi lưu giữ những kỷ vật liên quan đến cuộc đời và văn nghiệp của ông. Trước tác của Tùng Thiện vương rất đồ sộ, với các tác phẩm nổi tiếng như: Thương Sơn thi tập, Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di, Tĩnh y ký, Thức Cốc biên, Lão sinh thường đàm, Lịch đại đế vương thống hệ… Những trước tác của ông đều được khắc in bằng mộc bản. Hiện nay, tại phủ thờ Tùng Thiện vương còn lưu giữ gần 1.000 mộc bản khắc in các tác phẩm của Thi Ông, được hậu duệ của ông xem là vật gia bảo, giữ gìn rất cẩn trọng.

2. Sau khi Tùng Quốc công Miên Thẩm rời Kinh Thành ra ngoài, lập phủ riêng ở bên bờ sông Lợi Nông, thì các ông hoàng khác của triều Nguyễn cũng nối bước Tùng Quốc công tìm về dựng phủ ở các vùng quê như: An Cựu, Kim Long, Vỹ Dạ… Trong số đó có Tuy Quốc công Miên Trinh, hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng, em khác mẹ của Tùng Quốc công Miên Thẩm.

Bình phong trong phủ Tuy Lý vương

Bình phong trong phủ Tuy Lý vương

Năm 1839, Miên Trinh được phong là Tuy Quốc công, cho lập phủ riêng gọi là Tĩnh Phố, bên cạnh phủ Tùng Thiện công ở phường Liêm Năng trong Kinh Thành Huế. Đến năm 1847, ông lập phủ mới ở thôn Vi Dã (nay là phường Vỹ Dạ, thành phố Huế), rước mẹ là bà Tiệp dư Lê Thị Ái, về phụng dưỡng.

Phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái, thân mẫu Tuy Lý vương, trong khuôn viên của phủ

Phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái, thân mẫu Tuy Lý vương, trong khuôn viên của phủ

Năm 1854, Miên Trinh được tấn phong là Tuy Lý công. Đến năm 1878, nhân Ngũ tuần đại khánh của vua Tự Đức, ông được phong là Tuy Lý quận vương. Năm 1883, vua Tự Đức thăng hà, để lại di chiếu cho ông và Thọ Xuân vương là hai người giúp đỡ tân vương lo việc nước. Tuy nhiên, do nội bộ trong triều bấy giờ có nhiều phe phái. Hai vị Phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã thâu tóm quyền bính, dẫn đến loạn “tứ nguyệt tam vương” (bốn tháng, ba vua), nên Tuy Lý quận vương sợ bị hại, phái lánh mình trên chiếc tàu La Vipère của Pháp ở cửa biển Thuận An. Sau đó, người Pháp đưa Tuy Lý quận vương trở về kinh đô Huế. Hai ông Thuyết và Tường quy tội Miên Trinh, giáng xuống làm Tuy Lý huyện công, bắt giam vào binh xá ở phủ Thừa Thiên rồi đưa đi an trí ở Quảng Ngãi. Sau khi vua Đồng Khánh (1885 – 1889) lên ngôi, ông được triệu hồi về Huế và được phục tước Tuy Quốc công. Năm 1889, vua Thành Thái (1889 – 1907) cho phục tước Tuy Lý quận vương cho ông. Do những biến cố trong cuộc đời của ông trước đó nên gia sản của ông mất sạch. Vì thế, vua Thành Thái đã ban cấp 1000 quan tiền để ông dựng lại vương phủ ở thôn Vi Dã. Năm 1894, ông được thăng tước Tuy Lý Vương.

Án thờ Phật bên trong phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái

Án thờ Phật bên trong phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái

Tuy Lý vương Miên Trinh mất ngày 18.11.1897, thọ 79 tuổi, có 77 người con trai và 37 người con gái.

Miên Trinh cũng là một ông hoàng thi sĩ. Ông làm thơ từ năm 13 tuổi và được các danh sĩ đương thời ở kinh đô Huế tôn xưng là Thi Bá. Thơ văn của ông thường đề cập đến vấn đề đạo đức luân lý; diễn tả cảm xúc của ông trước thiên nhiên và tình cảm đối với bằng hữu và quyến thuộc.

Phủ thờ Tuy Lý vương

Phủ thờ Tuy Lý vương

Các trước tác của Thi Bá được tập hợp trong Vi Dã hợp tập, gồm 12 quyển, trong đó có 5 quyển văn, 6 quyển thơ và 1 quyển tự truyện. Tuy Lý vương sáng tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, với các tác phẩm như Nữ phạm diễn nghĩa từ, Nghinh tường khúc. Tác phẩm chữ Nôm nổi tiếng nhất của ông là Nữ phạm diễn nghĩa từ, biên soạn vào năm 1853, có nội dung đề cao tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh) của người phụ nữ theo quan điểm đạo đức của Nho giáo. Ngoài ra, ông cùng với anh trai Miên Thẩm và em trai Miên Bửu, sáng tác chung một bài thơ chữ Nôm dài 64 câu, tựa là Hòa lạc ca, nhân dịp ba anh em cùng đi du thuyền về cửa biển Thuận An, chẳng may gặp sóng gió, suýt bị nạn. Đây là bài thơ rất nổi tiếng ở Huế lúc bấy giờ, thể hiện sự tài hoa và tình cảm gắn bó của ba anh em Miên Thẩm – Miên Trinh – Miên Bửu, ba ông hoàng thi ca, con vua Minh Mạng.

Án thờ và chân dung Tuy Lý vương

Án thờ và chân dung Tuy Lý vương

Ngày nay, phủ Tuy Lý vương tọa lạc ở số 140, đường Nguyễn Sinh Cung, thành phố Huế. Tên chính thức của nơi này Tuy Lý vương từ, được khắc trân bức hoành phi sơn son thếp vàng treo ở phủ thờ chính bên trong khuôn viên của phủ. Tuy nhiên, dân Huế vẫn quen nơi này là phủ Ba Cửa, vì ở từ môn của phủ này có 3 ba cái cửa.

Nội thất phủ thờ Tuy Lý vương

Nội thất phủ thờ Tuy Lý vương

Khuôn viên của phủ Tuy Lý vương rộng khoảng 2000m2. Bên trong phủ hiện còn hai tòa nhà chính. Tòa ở đằng trước là phủ thờ bà Tiệp dư Lê Thị Ái, thân mẫu của Tuy Lý vương, bên trong có treo tấm hoành phi đề dòng chữ Hán Tiền triều Lê tiệp dư từ. Tòa phía sau là phủ thờ Tuy Lý vương, có bức hoành phi sơn son thếp vàng đề dòng chữ  Tuy Lý vương từ. Đây là ngôi nhà rường ba gian hai chái được làm theo kiểu nhà kép, gồm hai bộ mái được nối lại với nhau bằng trần thừa lưu. Cổ diêm và các bờ nóc bờ quyết của tòa phủ này có các đồ án tứ linh (long, lân, quy, phụng) được trang trí bằng sành sứ khảm cẩn. Ở nội thất, ngoài bàn thờ và khám thờ Tuy Lý Vương, còn thiết trí khá nhiều đồ tự khí, các hình ảnh của ông và những hiện vật liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của Thi Bá Miên Trinh. Những hiện vật đáng chú ý nhất ở nơi đây là hơn 150 mộc bản khắc in những tác phẩm thơ văn của ông.

Án thờ vọng, hoành phi, đối liễn trong phủ thờ Tuy Lý vương

Án thờ vọng, hoành phi, đối liễn trong phủ thờ Tuy Lý vương

Ngoài ra, trong khuôn viên của phủ còn có một ngôi nhà xây, là nơi thờ bà phủ thiếp Nguyễn Thị Lựu, người vợ thứ hai của ông.

Cả phủ Tùng Thiện vương và phủ Tuy Lý Vương đều được công nhận là di tích lịch sử văn hóa, và là những nơi mà du khách và những người yêu mến thi tài của hai ông nên viếng thăm mỗi khi có dịp đặt chân đến cố đô Huế.

Bài này đã được đăng trong Hồn cố đô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s