“Dạy học chính là một cách để tôi làm mới mình…”

Trần Đức Anh Sơn trả lời phỏng vấn báo Thừa Thiên Huế

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, báo Thừa Thiên Huế phỏng vấn nhà giáo/nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn xung quanh việc dạy học và viết lách của anh.

TS. Nguyễn Nhã (trái) đến dự giờ giảng của TS. Trần Đức Anh Sơn tại Trường Đại học Phan Châu trinh vào tháng 11/2008 và tặng sách cho sinh viên của TS. Trần Đức Anh Sơn. Ảnh: Lê Văn Thịnh

TS. Nguyễn Nhã (trái) đến dự giờ giảng của TS. Trần Đức Anh Sơn tại Trường Đại học Phan Châu trinh vào tháng 11/2008 và tặng sách cho sinh viên của TS. Trần Đức Anh Sơn. Ảnh: Lê Văn Thịnh

Chào anh, được biết anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ năm 35 tuổi, khi còn khá trẻ. Ngoài tấm bằng tiến sĩ, anh còn “nhận” được gì thêm từ kết quả nghiên cứu luận án tiến sĩ của mình không?

Tôi có may mắn là từ lúc làm khóa luận tốt nghiệp đại học đến lúc bảo vệ luận án tiến sĩ thì chỉ theo đuổi một đề tài duy nhất. Đó là đồ sứ ký kiểu. Tôi lại có may mắn là được làm việc trong một bảo tàng, là nơi lưu trữ đồ sứ ký kiểu nhiều nhất Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu của tôi được đặt trên một nền tảng thực tế rất vững chắc: có nhiều hiện vật để nghiên cứu, so sánh và viết luận án. Ngược lại, kết quả nghiên cứu của tôi giúp ích cho việc thống kê, đăng ký và bảo quản nguồn đồ sứ ký kiểu này tốt hơn. Tôi lại sử dụng kết quả nghiên cứu luận án tiến sĩ để xây dựng thành các học phần để giảng dạy cho sinh viên các ngành Bảo tồn – Bảo tàng và Việt Nam học… Bản luận án ấy cũng đã được tôi sửa chữa, bổ túc để in thành sách, xuất bản trong mùa hè vừa qua và bán khá chạy. Có thể nói luận án tiến sĩ của tôi là “sản phẩm 4 trong 1”.

Tuy nhiên, cái được lớn nhất là tôi đã học được phương pháp nghiên cứu rất hiệu quả nhờ quá trình làm luận án này. Theo tôi, việc đạt học vị tiến sĩ là quan trọng, nhưng không quan trọng bằng việc tiếp thu được các phương pháp nghiên cứu từ quá trình làm luận án để phục vụ cho công việc của mình sau này. Tôi đã vận dụng các phương pháp này để hoàn thành các đề tài nghiên cứu khoa học và viết thêm mấy cuốn sách và đã được xuất bản.

Cách đây mấy tháng, Thừa Thiên Huế cuối tuần đã có cuộc phỏng vấn anh với tư cách là một nhà nghiên cứu. Nay xin được phỏng vấn anh với tư cách là một nhà giáo. Anh suy nghĩ gì về việc “đổi vai” này?

Thực ra, tôi không hoàn toàn “đổi vai”, mà chỉ chuyển từ “bán phần” sang “toàn phần”. Từ năm 1998, tôi đã được mời tham gia giảng dạy một số chuyên đề liên quan đến bảo tàng học và hệ thống di tích lịch sử văn hóa Việt Nam cho sinh viên các ngành Văn hóa – Du lịch, Bảo tồn – Bảo tàng do các trường Đại học  Văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội liên kết đào tạo ở Huế. Mấy năm gần đây, tôi được trường Đại học Phú Xuân, trường Cao đẳng Sư phạm Huế… mời dạy thêm một số chuyên đề như: Văn hóa Huế, Luật Di sản văn hóa… cho sinh viên các ngành Lịch sử, Địa lý du lịch, Việt Nam học… Đó chính là cái duyên tiền định, khiến tôi đủ tự tin để chuyển hẳn sang nghề dạy học.

Anh có gặp khó khăn gì khi chuyển từ việc “viết cho người ta đọc” sang “nói cho người ta nghe”, nhất là khi người nghe là sinh viên, những người đang trong quá trình tích nạp kiến thức và kinh nghiệm sống?

Có chứ. Có nhiều người nghiên cứu rất giỏi, viết rất hay, nhưng khi đứng trên bục giảng thì lúng ta lúng túng, cứ như bị mèo tha mất lưỡi, nói chẳng ai hiểu. Lúc đầu tôi cũng vậy, thậm chí khi sinh viên hỏi tôi một vấn đề mà tôi rất am tường, tôi vẫn không sao giải thích cho các em hiểu được tường tận. Sau này, tôi mới nghiệm ra: dạy cho sinh viên khác với thuyết trình trước hội nghị, vì người nghe trong hai trường hợp này rất khác nhau. Vì thế, tôi phải lựa chọn cách truyền đạt rõ ràng, dễ hiểu nhất để giảng cho sinh viên, không cần phải cao đàm khoát luận như thuyết trình trong các cuộc hội thảo. Còn việc viết thì vẫn phải như xưa thôi: phải cẩn trọng, có chủ kiến và phải có cái gì đó mới, hấp dẫn thì mới thu hút được người đọc chứ.

Anh có nghĩ là sinh viên hiểu hết những gì anh truyền đạt không? Có khi nào sinh viên không hiểu nhưng vẫn cứ gật đầu cho xong chuyện để tránh phiền toái với thầy?

Tôi luôn khuyến khích sinh viên của mình phát biểu chính kiến, trao đổi thẳng thắn với giáo viên; khi làm bài thi không nên lặp lại những gì tôi đã giảng, mà phải có những ý tưởng sáng tạo và có quyền phản bác ý kiến của tôi. Tôi chấm điểm rất cao cho những bài thi dạng này. Tôi nghĩ cách dạy “thầy đọc, trò chép” vẫn là một căn bệnh trầm kha trong các giảng đường đại học ở nước ta. Nhưng nếu người thầy thay đổi được cách dạy “truyền thống”, biết cách khơi gợi tinh thần ham học hỏi của sinh viên, coi sinh viên là những đối tác, chứ không phải là đối tượng hấp thụ kiến thức thụ động thì lúc đó, bạn sẽ thấy sinh viên Việt Nam mình không rụt rè, thụ động như nhiều người từng nói. Họ rất năng động, thông minh, dí dỏm và ham hiểu biết.

Xem ra, tuy mới chuyển từ “nhà báo”, “nhà nghiên cứu” sang làm “nhà giáo”, nhưng anh có vẻ yêu nghề “làm thầy thiên hạ”?

Cái gì mới cũng hấp dẫn cả mà. Nhiều người đoán rằng, sau một thời gian, ngọn lửa nhiệt tình trong tôi sẽ giảm, vì tôi sẽ bị sự “quá tải” về mọi phương diện, mà guồng máy giáo dục hiện hành đang tạo ra, vắt cho kiệt sức. Tôi không rõ khi nào điều đó sẽ đến và tôi sẽ phải làm gì để chống lại điều đó. Chỉ biết với tôi bây giờ, dạy học chính là một cách để tôi làm mới mình, để tôi kiểm định những kiến thức mà mình thâu nhận trong quá trình nghiên cứu và để tôi có dịp chia sẻ kiến thức của mình cho sinh viên. Vậy thì tại sao tôi lại không yêu nghề này nhỉ?

Hạnh Nhi thực hiện

(Đã đăng trên báo Thừa Thiên Huế, số ra ngày 20/11/2008)

Bài này đã được đăng trong Đối thoại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s