TS. Trần Đức Anh Sơn: “Còn nhiều khoảng trống trong việc nghiên cứu Huế”

Trn Đc Anh Sơn tr li phng vn báo Tha Thiên Huế.

TS. Trần Đức Anh Sơn  phát biểu tại một hội thảo ở Huế. Ảnh: Bảo Đàn.

TS. Trần Đức Anh Sơn phát biểu tại một hội thảo ở Huế. Ảnh: Bảo Đàn.

Thưa ông, lâu nay các nhà nghiên cứu văn hóa, chính quyền, người Huế chúng ta ai cũng nói rất thuần thục rằng “Huế là vùng đất có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời”. Nhưng tôi lại nhìn thấy ngược lại. Truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời đó đang bị khu trú lại trong hơn 100 năm của triều Nguyễn. Và hiện tất cả mọi nguồn lực đều tập trung cho việc trùng tu, tôn tạo các di tích của triều đại này, trong lúc trên địa bàn còn hàng trăm di tích văn hóa lịch sử khác ngoài triều Nguyễn đang bị lãng quên. Chẳng lẽ văn hóa lịch sử của Huế chỉ có mỗi một triều Nguyễn? Xin ông cho biết ý kiến của mình về nhận xét này? Nếu được, xin ông lý giải nguyên nhân và đưa ra một vài giải pháp?

Tôi cho rằng thực trạng trên có nhiều nguyên nhân:

Về khách quan, là do di sản văn hóa mà triều Nguyễn để lại trên đất Huế quá đồ sộ, khiến cái bóng của văn hóa thời Nguyễn dường như che khuất những gì từng có trước và sau thời đại ấy. Nhiều nhà nghiên cứu đã nói rằng: chỉ một thế kỷ 19, nhưng nhà Nguyễn đã tạo ra một di sản văn hóa bằng 18 thế kỷ trước cộng lại.

Về chủ quan, là do các nhà nghiên cứu ở Huế khi nghiên cứu về lịch sử và văn hóa Huế thường chọn thời Nguyễn vì giai đoạn này có nhiều tư liệu (cả tư liệu thành văn, tư liệu vật thể và tư liệu phi vật thể, trong khi nghiên cứu các giai đoạn khác có nhiều khó khăn vì ít tư liệu, khó công bố hoặc không thể công bố trung thực, trọn vẹn vì những lý do được cho là nhạy cảm. Chẳng hạn như vấn đề Champa…

Ngoài ra, các chủ đề nghiên cứu về thời Nguyễn rất phong phú, người nghiên cứu dễ tìm được đề tài hay, hấp dẫn để nghiên cứu hoặc tổ chức hội thảo, hội nghị khoa học. Trong nhiều năm qua, ở Huế nói riêng và ở nhiều nơi trong nước đã diễn ra nhiều hội thảo khoa học, sự kiện văn hóa, lễ hội liên quan đến triều Nguyễn, trong khi các hội thảo khoa học, sự kiện văn hóa, lễ hội về các thời kỳ khác của Huế như thời kỳ tiền – sơ sử; thời kỳ Champa, thời kỳ Hóa Châu, thời kỳ Thuận Hóa – Phú Xuân… lại rất thưa vắng.

Một nguyên nhân khác là do quần thể di tích kiến trúc thời Nguyễn ở Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, thu hút sự chú ý của dư luận và thu hút du khách đến với Huế. Vì thế, khi nói tới Huế là người ta nghĩ ngay đến thành quách, lăng tẩm, đền đài, miếu mạo… của triều Nguyễn mà bỏ qua những loại hình di tích của các thời kỳ khác. Tương tự, khi nói tới văn hóa Huế thì người ta chú ý vào văn hóa Huế thời Nguyễn; nói đến tính cách Huế, người ta cũng liên tưởng ngay đến sự quý phái, nét gia phong, tính thâm trầm… và giải thích sự hình thành những tính cách đó có nguồn gốc sâu xa từ văn hóa cung đình thời Nguyễn.

Ở một phương diện khác, nhiều người từng nhẫm lẫn khi cho rằng thành phố Huế là di sản văn hóa thế giới và toàn bộ các di tích lịch sử văn hóa ở Huế đều là những bộ phận tổ thành của di sản văn hóa thế giới. Điều này không đúng vì UNESCO chỉ công nhận quần thể kiến trúc thời Nguyễn ở Huế là di sản văn hóa thế giới, chứ không phải là các di tích lịch sử – văn hóa nói chung ở Huế.

Từ nhận thức trên, nên việc đề cao di sản văn hóa thời Nguyễn, tập trung nguồn lực cho việc trùng tu, tôn tạo các di tích thời Nguyễn mà lãng quên di tích của các thời kỳ khác là điều đương nhiên. Đó là chưa kể đến việc đầu tư để trùng tu và bảo tồn quần thể di tích triều Nguyễn có thể thu lợi nhiều hơn so với đầu tư tôn tạo di tích của các thời kỳ khác vì du khách đến Huế dường như chỉ đi thăm (có mua vé) các di tích thời Nguyễn, còn các di tích khác thì họ in quan tâm, dù những nơi đó hoàn toàn miễn phí tham quan. Vì thế, trong thời gian qua chúng ta đã ưu tiên đầu tư trùng tu, tôn tạo các di tích thời Nguyễn vì nó sinh lợi từ việc thu hút khách du lịch. Chỗ nào không thể thu hút khách, không thể sinh lợi được thì ít được quan tâm đầu tư.

Để khắc phục tình trạng này, theo tôi, Huế nên có một chính sách toàn diện và hài hòa đối với việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa của tất cả các thời kỳ lịch sử. Có sự đầu tư thích đáng cho việc trùng tu, tôn tạo tất cả các loại hình di tích và có một chính sách tuyên truyền quảng bá hấp dẫn đơn vị những mảng di tích, di sản văn hóa của các thời kỳ khác ngoài thời Nguyễn; khuyến khích các nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về các thời kỳ tiền sơ sử, thời kỳ Champa, thời kỳ Hóa Châu, thời kỳ Thuận Hóa – Phú Xuân… ở Huế.

Bản đồ khảo cổ học Thừa Thiên Huế hiện nay còn có nhiều khoảng trống chưa thể lấp đầy. Thừa Thiên Huế có các di tích thuộc thời kỳ đá mới đã được phát hiện, dày đặc các di tích thuộc văn hóa Sa Huỳnh, có nhiều dấu tích văn hóa Đông Sơn, dấu tích văn hóa Champa… nhưng chúng ta chưa nghiên cứu kỹ các loại hình di tích này. Nguyên nhân là do thiếu chuyên gia, thiếu kinh phí và thiếu sự quan tâm. Người làm khảo cổ học ở Huế hiện chỉ đếm được trên đầu ngón tay, người học khảo cổ cũng rất hiếm hoi do ngành này khó học, ra trường khó xin việc làm. Vì thế, việc thiếu nhân lực chuyên môn và chuyên gia trong lĩnh vực này là điều tất yếu.

Trước đây, tôi có tư vấn cho ông Phan Tiến Dũng khi ông ấy mới lên làm Giám đốc Sở VHTT&DL Thừa Thiên Huế rằng cần phải thành lập bộ phận thăm dò khảo cổ học trong Phòng Nghiên cứu Di sản Văn hóa trực thuộc Sở VHTT&DL Thừa Thiên Huế. Bộ phận này có nhiệm vụ tiến hành việc thăm dò, khai quật khảo cổ học, lập bản đồ di tích và công bố định kỳ để tư vấn cho chính quyền và các cơ quan chức năng trong việc quy hoạch, định hướng phát triển đô thị; cho các nhà đầu tư tham khảo trước khi quyết định đầu tư xây dựng một công trình nào đó trên địa bàn thành phố Huế. Làm được điều này, chúng ta sẽ tránh được những vụ rắc rối kiểu “Life Resort” hay “Dã Viên Resort” khiến những người yêu Huế không hài lòng còn nhà đầu tư thì nản lòng.

Để có thể thành lập bộ phận này, Thừa Thiên Huế cần phải có chính sách tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực. Có thể lựa chọn những sinh viên mới tốt nghiệp đại học, gửi đi đào tạo các lĩnh vực: quy hoạch và quản lý đô thị, quản lý di sản văn hóa, khảo cổ học… ở trong và ngoài nước, với các ưu đãi về học phí và học bổng, cùng các điều kiện buộc họ phải trở về làm việc cho Huế sau khi học xong.

Tôi nhận thấy rằng hiện nay trong công tác trùng tu di tích cố đô Huế, người ta tới bề nổi hơn là bề sâu. Theo sự hiểu biết của tôi, lẽ ra chúng ta phải ưu tiên trùng tu các công trình kiến trúc trọng yếu trước khi trùng tu các công trình kiến trúc phụ, nghĩa là phải sửa xong chính điện rồi mới làm trường lang để nối các chính điện với nhau. Tuy nhiên hiện nay, người ta đang ưu tiên làm các công trình phụ, các công trình hạ tầng và chiếu sáng trước, còn các dự án trùng tu các công trình chính thì triển khai rất chậm.

Bảo tàng là nơi lưu giữ ký ức của một vùng đất. Bây giờ ở Huế muốn tìm hiểu về các thời đại trước Nguyễn như Champa, tiền sơ sử… thì ngoài sách vở, không còn cách nào khác là phải vào bảo tàng. Nhưng hiện tại các bảo tàng ở Huế, đặc biệt là Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng, có rất nhiều vấn đề khiến người ta thất vọng. Theo ông, vấn đề cốt lõi của câu chuyện này là gì?

Tôi xin nói thẳng là ở Huế không có người làm bảo tàng chuyên nghiệp. Phần lớn cán bộ bảo tàng ở Huế là từ các ngành khác chuyển sang, thậm chí là từ cán bộ tuyên giáo. Một số ít người tốt nghiệp từ ngành bảo tồn, bảo tàng do các trường đại học văn hóa ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đào tạo cũng chưa đủ năng lực để làm việc trong bảo tàng như một curator thực sự. Giáo trình bảo tàng học trong các trường văn hóa ở Việt Nam chủ yếu được dịch từ giáo trình do Liên Xô biên soạn từ những năm 1960. Bây giờ đã là năm 2010, tức là mức độ lạc hậu của các giáo trình ấy so với các lý thuyết của bảo tàng học hiện đại là khoảng nửa thế kỷ. Học giáo trình kiểu ấy, ra trường không làm được việc thì cũng phải thôi.

Thứ hai là do sai lầm trong việc tuyển chọn và bố trí nhân sự cho ngành bảo tàng. Ở các nước phát triển, những người làm bảo tàng phải qua những cuộc sàng lọc, thi tuyển gắt gao. Họ phải là những người thực sự có năng lực, trình độ. Họ được xã hội tôn trọng như những bậc thức giả. Trong khi ở Việt Nam, nghề bảo tàng không được coi trọng. Người ta thường đưa về bảo tàng những người “kém tài, kém sắc”, hay là những người bất mãn, ngang đầu cứng cổ (như tôi chẳng hạn) những người không biết bố trí vào đâu… Làm việc với một tư thế như vậy, thì  chẳng ai có hào hứng để học tập, nghiên cứu, tìm hiểu…

Thứ ba là do những hạn chế trong quan điểm về chức năng của bảo tàng. Ở Việt Nam người ta chú trọng chức năng giáo dục mà ít chú ý đến các chức năng khác. Nói đến bảo tàng là nói đến chức năng giáo dục truyền thống mà lãng quên các chức năng khác như: chức năng khai trí (mở mang trí tuệ, trang bị kiến thức, tạo cho con người sự yêu thích về văn hóa, lịch sử); chức năng giải trí… Chính vì không chú trọng đến các chức năng này nên các hình thức trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (trong đó có Huế) luôn luôn đơn điệu, xơ cứng và nặng nề.

Nguồn hiện vật trong các bảo tàng thuộc hệ thống nhà nước ở Huế không nhiều, do không có nhiều kinh phí để mua bổ sung. Trong khi đó cổ vật trong dân rất nhiều nhưng các bảo tàng lại không tranh thủ được. Ở các nước khác, bảo tàng phối hợp rất chặt chẽ với các nhà sưu tập tư nhân và các hội đoàn xã hội. Nhờ vậy họ có thể thuê, mượn cổ vật của tư nhân để trưng bày trong bảo tàng cả năm, thậm chí nhiều năm, chứ không chỉ trưng bày chuyên đề trong một, hai tuần như lâu nay ở Huế vẫn làm.

Hiện nay chúng ta đang làm bảo tàng theo loại hình bảo tàng tổng hợp của địa phương. Loại hình này trên thế giới hiện chỉ còn một số nước duy trì, vì loại bảo tàng này có hình thức trưng bày theo lịch đại, khó làm nổi bật bản sắc đặc trưng của địa phương nên đơn điệu, nhàm chán. Chỉ cần xem một bảo tàng của tỉnh A là có thể hình dung bảo tàng của tỉnh B, tỉnh C, vì cách thức trưng bày của các bảo tàng tổng hợp địa phương này rất giống nhau.

Trước đây, tôi có đọc quy hoạch phát triển bảo tàng ở Thừa Thiên Huế đến năm 2015, thấy có nhiều dự án thành lập bảo tàng mỹ thuật, bảo tàng văn hóa dân gian… nhưng lâu rồi chẳng thấy Huế có thêm bảo tàng nào cả. Tôi đã từng đề xuất với lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế về việc thành lập bảo tàng sinh thái ở vườn quốc gia Bạch Mã để trưng bày và bảo tồn những giống cây, giống con đặc hữu của địa phương. Lãnh đạo tỉnh khen ý tưởng hay, rồi thôi.

Tôi cũng ước mong Huế có một bảo tàng ẩm thực hay bảo tàng nghi lễ. Ẩm thực Huế nổi tiếng cả nước với hơn 1.300 món ăn. Thành lập một bảo tàng để giới thiệu về tinh hoa ẩm thực Huế là việc nên làm, vì đây là thế mạnh của Huế, cũng như tôi đề xuất với thành phố Đà Nẵng nên lập bảo tàng văn hóa biển vì đây là thế mạnh của thành phố biển này. Ngoài ra, Huế là mảnh đất của lễ nghi, vậy thì một bảo tàng chuyên trưng bày, tái hiện về các loại nghi lễ cung đình và nghi lễ dân gian xứ Huế sẽ hay biết bao. Tôi tin chắc rằng bảo tàng kiểu này sẽ rất hấp dẫn du khách, chứ không đến nỗi đìu hiu, tẻ nhạt như hiện trạng của các bảo tàng địa phương, mà Huế là một thí dụ.

Xin cám ơn ông.

Tường Minh thực hiện

(Bài đã đăng trên báo Thừa Thiên Huế số ra ngày 3/11/2010)

Bài này đã được đăng trong Đối thoại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s