TS Trần Đức Anh Sơn: “Sống đúng với những gì mình có”

Trn Đc Anh Sơn tr li phng vn báo Sài Gòn Tiếp Thị

Chân dung TS Trần Đức Anh Sơn. Họa sĩ: Hoàng Tường.

Chân dung TS Trần Đức Anh Sơn. Họa sĩ: Hoàng Tường.

SGTT.VN – Trong cuộc đời nghiên cứu, TS Trần Đức Anh Sơn – Viện phó Nghiên cứu Phát triển Kinh tế – Xã hội Đà Nẵng – không ít lần gặp khó bởi tính cách quyết liệt, không khoan nhượng, đầy trách nhiệm công dân. Nhưng hạnh phúc với ông chính là được cống hiến đúng nghĩa trong vai trò một nhà nghiên cứu lịch sử, mà theo ông “ngoài trách nhiệm chuyên môn, còn có trách nhiệm với quê hương, đất nước”.

Không kể các bản đồ cổ của Việt Nam và Trung Quốc, 56 tấm bản đồ của phương Tây có niên đại trải dài hơn ba thế kỷ mà ông sưu tầm được, đã khẳng định thế nào về chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa?

Với đề tài “Fond tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – Thành phố Đà Nẵng”, tôi và bảy thành viên cùng tham gia đã tìm kiếm, sưu tầm những tư liệu liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này, xây dựng thành bốn thư mục: tư liệu văn bản, tư liệu hình ảnh, tư liệu bản đồ và tư liệu nghe nhìn, trong đó có 56 bản đồ do người phương Tây vẽ và xuất bản trong các thế kỷ 16 – 19. Những bản đồ này được các nhà hàng hải, các nhà truyền giáo, các nhà buôn… phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến địa lý, giao thương, truyền giáo… ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trên những tấm bản đồ này, quần đảo Hoàng Sa được thể hiện bằng hình vẽ ở trong vùng Biển Đông của nước ta, với kinh tuyến và vĩ tuyến khá chính xác, và được ghi danh là Paracel Islands, Paracel, Paracels, Pracel, Parcels, Paracelso… tuỳ theo ngôn ngữ mỗi nước. Trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được thể hiện hoặc ghi chú rất đặc biệt. Chẳng hạn: bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613, thể hiện quần đảo Pracel (Hoàng Sa), bao gồm tất cả các đảo của Việt Nam từ nam vịnh Bắc Bộ cho đến hết vùng biển phía nam của Việt Nam; bản đồ do W. Blaeu vẽ năm 1645 thì quần đảo Pracel được vẽ nối liền với các đảo Pulo Secca de Mare (cù lao Thu, tức đảo Phú Quý), Pulo Cambir (cù lao Xanh), Pullo Canton (cù lao Ré, tức đảo Lý Sơn), thành một chuỗi đảo liên hoàn thuộc lãnh thổ Cochinchina (Đàng Trong); bản đồ do Homann Heirs vẽ năm 1744 ghi chú quần đảo Hoàng Sa là I. Ciampa (viết tắt của chữ Islands Ciampa), nghĩa là “quần đảo (thuộc vương quốc) Ciampa” (Ciempa hay Ciampa là tên mà người phương Tây gọi vùng đất Đàng Trong lúc bấy giờ do họ cho rằng đây là đất cũ của vương quốc Champa)… Đặc biệt, trên tấm bản đồ An Nam đại quốc hoạ đồ do giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838 có ghi dòng chữ “Paracel seu Cát Vàng” (Paracel hoặc Cát Vàng). Trước đó, trong một bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837, giám mục Taberd đã khẳng định: “Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa – Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina”. Trên nhiều tấm bản đồ khác, vùng bờ biển Quảng Nam – Quảng Ngãi, song song với quần đảo Hoàng Sa thì được ghi là Costa da Paracel (bờ biển Hoàng Sa).

Những tấm bản đồ này khẳng định việc người Việt khai phá, chinh phục và xác lập chủ quyền với Hoàng Sa (và Trường Sa) đã được mặc nhiên thừa nhận bởi các nhà hàng hải, các nhà phát kiến địa lý và thương gia phương Tây khi họ đến đây thám sát, đo vẽ và thực hiện các bản đồ này.

Theo ông, giới sử học Việt Nam cần nỗ lực thế nào để tạo được tiếng nói chung với các nhà khoa học quốc tế trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của mình?

Tôi cho rằng các nhà sử học Việt Nam đều mong muốn đóng góp sức lực và trí tuệ của mình đối với vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia. Nhiều người đã âm thầm làm công việc này từ lâu và biên soạn được nhiều công trình có giá trị để góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cũng tham dự nhiều hội thảo quốc tế, trình bày những chứng cứ và lý lẽ đầy thuyết phục trước các học giả quốc tế, không chỉ để chứng minh chủ quyền của chúng ta mà còn nhằm tìm kiếm sự ủng hộ, đồng thuận của các học giả khu vực và quốc tế trước hiểm hoạ bành trướng từ Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi có cảm giác rằng trên các diễn đàn quốc tế về vấn đề chủ quyền trên Biển Đông, học giả Việt Nam dường như bị thua thiệt so với học giả các nước, nhất là học giới Trung Quốc, dù chúng ta có nhiều chứng cớ lịch sử, có nhiều chứng lý được công pháp quốc tế ủng hộ. Nguyên nhân là các học giả Việt Nam chưa nhận đủ sự ủng hộ cần thiết và hết mình – điều mà tôi luôn ước mơ – của chính giới Việt Nam. Đồng thuận và khuyến khích những hoạt động liên minh trong lĩnh vực nghiên cứu vấn đề chủ quyền quốc gia ở Biển Đông giữa Việt Nam và các nước trong khu vực để chống lại tham vọng phi pháp của Trung Quốc là hết sức cần thiết vào lúc này. Tiếc là tôi chưa nhìn thấy nhiều những tín hiệu đồng thuận và khuyến khích đó.

Bước ngoặt nào thôi thúc ông bước vào con đường nghiên cứu để đưa văn hoá triều Nguyễn và xứ Huế tới gần đời sống nhất?

Là một người thực tế, tôi không thích khuôn định những nghiên cứu của mình trong những vấn đề học thuật đơn thuần. Tôi mong muốn mọi du khách khi đến Huế đều có cơ hội hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hoá triều Nguyễn, cả những công lao và những hạn chế của triều đại này đối với lịch sử Việt Nam, chứ không đơn giản gắn triều Nguyễn với việc lật đổ nhà Tây Sơn và việc để mất nước vào giữa thế kỷ 19 như cách mà người ta đã “phổ cập tri thức” cho công dân Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ qua. Tôi cũng mong những di sản văn hoá lịch sử do triều đại này để lại phải được bảo tồn và phát huy giá trị tốt nhất để phục vụ du lịch, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Ông đã trải qua một quá trình vừa tích luỹ, vừa phản biện như thế nào, để xuất bản được nhiều đầu sách về văn hoá, lịch sử Huế, Quảng Nam?

Trong quá trình học hỏi, nghiên cứu, tôi không thâu nạp kiến thức một cách thụ động mà luôn tìm cách kiểm chứng những kiến thức đó khi có điều kiện. Tôi thường sục sạo các nguồn tư liệu hay lang thang trên thực địa để xem những gì người ta nói, viết có đúng như thế không? Nếu thấy không đúng, tôi viết bài để “nói lại cho rõ”. Về sau, tôi tập hợp các bài viết đó để in thành sách, hoặc đưa lên internet cho ai thích thì đọc. Vì thế, những cuốn sách đã in của tôi chưa hẳn là sách nghiên cứu đúng nghĩa. Tôi chỉ mới viết về lịch sử và văn hoá Huế, chưa viết gì nhiều về Quảng Nam. Xứ Quảng là một vùng văn hoá lớn mà tôi đang dọ dẫm bước vào nên chưa dám nghĩ đến chuyện viết sách về vùng đất này.

Ông có buồn nhiều không về sự suy thoái học thuật trong viết sử và nghiên cứu sử?

Tôi chỉ thấy buồn là càng ngày càng có ít người muốn viết sử và nghiên cứu sử một cách nghiêm túc. Họ không suy thoái về trí tuệ, nhưng họ bị chi phối bởi nhiều thứ: thời gian, phương pháp luận, chi phí đầu vào và nhãn quan chính trị. Nhà sử học Dương Trung Quốc có phát biểu: “Không có một nền sử học phi chính trị”. Điều đó đúng, nhưng không có nghĩa là việc gì của sử học cũng có chính trị xen vào. Đáng buồn là ở Việt Nam hiện nay, người viết sử phải là người biết nghe ngóng “thời tiết chính trị”, phải biết tự kiểm duyệt trước khi viết. Nếu không, công trình của anh chưa chắc đã được xuất bản mà anh còn tự mang phiền toái về cho mình. Cũng vì lý do này nên người ta thường né tránh những vấn đề lịch sử có tính gai góc mà chọn cho mình những đề tài vừa phải “cho nó lành”. Kết quả là chỉ có những công trình “nhờ nhờ, nhàn nhạt” ra đời mà thôi.

Người thầy nào trong nghiên cứu sử học mà ông coi trọng nhất?

Có ba người thầy để lại những dấu ấn đậm nét nhất trong con đường học thuật của tôi: thầy Nguyễn Hữu Thông (hiện là phân viện trưởng phân viện Văn hoá nghệ thuật Việt Nam tại Huế), giáo viên hướng dẫn tôi làm khoá luận tốt nghiệp đại học, là người mở cho tôi cánh cửa đi vào con đường học thuật, cũng là người có nhiều ảnh hưởng trong cách viết của tôi. Thầy Nguyễn Khắc Thái (hiện là cán bộ hưu trí ở Quảng Bình), giáo viên phản biện khoá luận tốt nghiệp đại học của tôi là người trang bị cho tôi phương pháp luận nghiên cứu và tinh thần tự do, phóng khoáng trong nghiên cứu khoa học. Thầy Trần Quốc Vượng (đã quá cố), giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ của tôi, người đã dạy cho tôi về sự “không sợ hãi” trong nghiên cứu và giảng dạy. Tư duy phản biện và lối ăn nói của thầy đã tác động đến tôi rất nhiều.

Đầy cá tính, hay cãi (kể cả cãi lại với chính mình), ông có gặp nhiều khó khăn trong đời sống riêng? Thất bại nào với ông là lớn nhất?

Tôi là người hay cãi, hay nói thẳng nên cũng gặp nhiều phiền toái. Đó cũng là thất bại của tôi, vì không được nhiều người “yêu thương”, nhất là những người có chức, có quyền. Tuy nhiên, tôi không biết đó có phải là “thất bại lớn” của tôi hay không? Tôi học sử thì được nhưng học từ những thất bại thì rất kém. Trong phòng làm việc của tôi trước đây ở Huế, tôi có treo một chữ “Nịnh” rất lớn ở ngay trước mặt, để luôn nhắc nhở mình rằng: phải biết nịnh thì mới tồn tại. Nhưng rồi, tôi chả học được bao nhiêu từ cái chữ “Nịnh” ấy cả.

Luận án tiến sĩ sử học của ông về đồ sứ Việt Nam ký kiểu tại Trung Hoa bị cho là “làm lộ bí mật nhà nước”… Theo ông, viết sử, nghiên cứu lịch sử có phải là một công việc nguy hiểm? Điều gì giúp ông giữ được niềm tin trong những ngày “sống trong sợ hãi”?

Chuyện xảy ra đã gần mười năm nhưng trong tôi vẫn luôn mang ơn hội Khoa học lịch sử Việt Nam và quỹ giải thưởng Phạm Thận Duật đã trao cho tôi “chiếc phao cứu sinh” năm ấy. Hơn cả một giải thưởng danh giá dành cho dân học sử, giải thưởng ấy góp phần chứng minh tôi không sai, không làm lộ bí mật nhà nước.

Tôi không coi việc viết sử, nghiên cứu lịch sử là một công việc nguy hiểm, nhưng quả thật là công việc khó khăn. Khó khăn khi phải đối diện với sự trung thực của chính mình, của vấn đề mình nghiên cứu hay đánh giá; khó khăn khi phải đấu tranh với những tư tưởng cổ hủ, thủ cựu, thói ghen ăn tức ở… của người đời, với sự nông cạn và thói chụp mũ chính trị của những ông quan lớn ở địa phương.

Quả thực lúc đầu tôi cũng sợ hãi. Nhưng sau khi đọc kỹ pháp lệnh bí mật nhà nước thì tôi tin rằng tôi không làm gì sai, và cũng tin rằng những người ký giấy điều tra luận án tiến sĩ của tôi là những người chưa… đọc pháp lệnh! Nhờ đó mà tôi giữ được niềm tin trong những ngày “sống trong sợ hãi”.

Những nguyên tắc mà ông coi trọng nhất trong nghề nghiệp và trong cuộc sống?

Trung thực và đừng bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ cuộc.

Ông từng nói “cỏ thì không thích mọc dưới bóng râm”, đó có phải là băn khoăn của riêng ông về tư cách kẻ sĩ?

Nếu mình là một ngọn cỏ thì đó là ngọn cỏ mọc trên cánh đồng, vì cỏ không thích mọc dưới bóng râm đại thụ. Kẻ sĩ có là cỏ hay là đại thụ cũng tuỳ vào cách hiểu mỗi thời. Thời này không ai thích làm cỏ cả, nhất là thứ cỏ dại mọc trên đồng hoang như tôi tự chọn. Tôi cũng không phải kẻ sĩ mà chỉ là hàn sĩ.

Theo ông, thế nào là một người biết sống?

Người xưa có câu: “Sống sao cho vừa lòng người. Sống rộng người cười, sống hẹp người chê”. Tôi chỉ tự đặt cho mình một bổn phận sống: sống đúng với những gì mình có: tính cách, tình cảm, tri thức và trách nhiệm; sống với cảm xúc thực và chân tướng của mình.

Món nợ nào với ông là lớn nhất?

Sinh thời, cố học giả Từ Chi có khuyên tôi cùng mấy bạn trẻ khác trong một dịp ông đến Huế nói chuyện: “Muốn nghiên cứu tốt về lịch sử Việt Nam, phải thông thạo Hán văn và Pháp văn; muốn đem những thành quả nghiên cứu lịch sử của mình ra với thế giới, phải rành rọt Anh văn”. Tôi nằm lòng câu này nhưng vốn tiếng Anh, tiếng Pháp và chữ Hán của tôi không món nào xứng với lời khuyên của cụ Từ Chi cả, vì thế mà tôi chưa có công trình nghiên cứu nào ra hồn. Đó chính là món nợ lớn nhất mà tôi chưa trả được.

Thực hiện: Kim Yến

(Đã đăng trên báo Sài Gòn Tiếp thị, Số 87, Ngày thứ Hai 6.8.2012)

Bài này đã được đăng trong Đối thoại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s