NHỚ MAI

Trần Đức Anh Sơn

Tôi rất thích mai. Đó không phải là sự ưa thích bình thường của người đối với một loài hoa, mà là một niềm đam mê, tựa tình yêu trai gái. Ngặt một nỗi, mỗi năm, mai chỉ đến với tôi vỏn vẹn trong mấy ngày xuân, nên tôi cứ khắc khoải nhớ mai suốt cả năm ròng. Bởi vì tôi đã ngóng trông mai cả năm trời nên khi có dịp ở bên mai, tôi cứ mong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy trở nên vô tận.

Có lần, một người bạn xứ Bắc vô Huế thăm tôi. Tết đã qua được gần một tháng, song trong thư phòng tôi vẫn chưng một cành mai, lá xanh mơn mởn và hoa thì không còn lấy một nụ. Bạn tôi thắc mắc: “Hoa đã rụng hết, cành mai chỉ còn lá sao anh chưa bỏ nó đi?”. Tôi hỏi lại bạn: “Anh có biết hai câu thơ ‘Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai’ trong bài ‘Cáo tật thị chúng’ của Mãn Giác thiền sư không? Vẫn biết là thiền sư có ý dạy rằng: ‘đừng có nghĩ xuân tàn thì hoa rụng hết, bởi đêm qua trước sân vẫn có một cành mai’ để luận về vòng chu chuyển tất yếu của thiên nhiên và sinh mệnh, nhưng tôi vẫn hiểu theo một ý khác: Đã tàn xuân mà thiền sư trông thấy mai. Ấy là sự lạ. Phải chăng có cành mai nở muộn? hay chỉ là lối ẩn dụ của thiền sư về sự biến thiên của vòng vũ trụ? Tôi đồ rằng thiền sư đã nhìn thấy sự trường cửu của mùa xuân nơi một ‘cành mai tàn có thực’ trước chùa. Cành mai này hẳn nhiên là không còn hoa nữa, nhưng thiền sư Mãn Giác đã nhận ra thông điệp của mùa xuân kế tiếp, của thế hệ kế tiếp nơi cành mai ấy mà truyền bảo cho đệ tử. Tôi giữ cành mai tàn này cũng là mong được nhìn thấy sự trường cửu của mùa xuân trong thư phòng của mình vậy”. Bạn tôi đáp: “Người Huế các anh thích thi vị hóa cuộc sống. Dân Bắc chúng tôi, sau Tết là ném ngay cành đào lên chiếc xe rác chạy ngang trước cửa cho nó rảnh nhà. Hơi đâu mà…”. Bạn tôi bỏ lửng câu nói, nhưng tôi đoán anh đang cười thầm vì câu giải thích có vẻ “lẩn thẩn” của tôi.

Nho mai 04

Có hai câu thơ, tương truyền là của Cao Bá Quát, được cho là những câu thơ hay nhất viết về mai: “Thập tải luân giao cầu cổ kiếm. Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Mười năm chu du tìm kiếm báu. Một đời chỉ cúi lạy hoa mai). Tôi không “lạy mai” như Cao Chu Thần. Tôi chỉ nhớ mai. Ngày miền Nam giải phóng, từ Đà Nẵng cả nhà tôi bồng bế nhau về quê cũ ở vùng cát Phong Điền. Đứng trước căn nhà xiêu vẹo, trống huơ trống hoác sau mấy tháng chạy loạn, bà ngoại của tôi không nói gì, chỉ lặng lẽ đi tìm cái xô cũ, múc nước, tưới cho gốc mai đang héo sầu bởi lửa đạn chiến tranh và những trận gió Lào khô rát. Cái Tết hòa bình đầu tiên, cây mai trước sân của ngoại bỗng dưng trút sạch những chiếc khô cằn, thay vào đó là những búp nụ xanh biếc như ngọc và những cánh mai vàng rực cả một khoảng sân. Ngoại tôi thủng thẳng: “Hòa bình rồi. Cây mai nhà mình không còn sợ bom rơi đạn nổ nữa nên bông tha hồ nở, không như Tết năm ngoái, chỉ thưa thớt mấy nụ”. Hoa mà cũng biết chiến tranh và hòa bình ư? Tôi bán tín bán nghi, rất muốn hỏi ngoại câu ấy nhưng không dám. Ngoại tôi vốn kiệm lời và là người nghiêm khắc nhất mà tôi được biết trên cõi đời này.

Nho mai 03

Rồi gia đình tôi thiên di vào Nam đi “kinh tế mới”. Tôi không đi cùng mà ở lại Huế để theo đuổi việc học hành. Mấy năm sinh viên, vì nghèo, nên tôi không đủ tiền xuôi Nam ăn Tết cùng gia đình, đành ở lại ký túc xá, kiếm cành mai làm bạn, ngồi uống rượu suông, chờ mùa xuân mang thêm cho mình một tuổi. Một năm, có người bạn cùng lớp rủ tôi về nhà cậu ấy ăn Tết. Đó là ngôi nhà nhỏ nằm dưới chân một đồi cát trắng xóa, lọt thỏm trong một vườn mai đang độ mãn khai. Khung cảnh yên bình và đẹp tựa tranh vẽ. Tôi thích tha thẩn một mình trong vườn mai ấy, ngắm những bông mai đang khoe sắc trên cành và những cánh mai đang dát vàng trên mặt đất, cảm thấy mình như là nét bút nguệch ngoạc đang di chuyển trong bức tranh thiên nhiên chỉ có hai màu: vàng và trắng. Và chợt nhớ về chốn cũ của ngoại, nơi có một lão mai thân sần sùi bởi dấu vết của thời gian và chiến tranh, nhưng sắc hoa thì luôn vàng rực và tươi trẻ như thiếu nữ đang độ xuân thì.

Tôi ra trường, được nhận vào làm việc ở trong Đại Nội Huế. Người ta phân cho tôi một căn phòng mười hai thước vuông tọa lạc ở góc đông bắc Tử Cấm Thành để tá túc. Gặp bạn bè cũ, hỏi tôi làm gì? ở đâu? Tôi đáp: “Mình đã nhập cung, giữ chân thư lại trong Đại Nội; ở trong căn nhà nhỏ nhất nhưng có cái vườn to nhất xứ Huế”. Chả là Đại Nội rộng gần ba mươi tám mẫu Tây mà. Trong Đại Nội, nơi Thế Miếu có một vườn mai. Chẳng hiểu sao mai trong vườn này ít khi nở đúng dịp Tết mà thường nở muộn cả tuần lễ. Vì thế, đêm nguyên tiêu, tôi thường đến đây, ngắm những cánh mai mờ ảo hiện ra dưới ánh trăng, môi nhấp chén rượu, ngâm ngợi bài Nguyệt mai, một bài cổ thi viết trên chiếc dĩa trà sứ ký kiểu, mà tôi đã thuộc nằm lòng từ cái ngày đầu tiên theo nghiệp khảo cứu đồ xưa: “Mai hoa đắc nguyệt cánh thiêm thần. Nguyệt lý mai hoa sắc dũ chân. Quế điện lung linh hoa lộng ảnh. Hoa chi diêu duệ nguyệt xâm nhân. Mê ly nguyệt để hoa xâm ngọc. Tịch mịch hoa gian nguyệt tuyệt trần. Ngã ái mai hoa kiêm ái nguyệt. Nhất mai nhất nguyệt lưỡng giai xuân”.

Bài thơ Nguyệt mai trên chiếc dĩa trà, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn.

Bài thơ Nguyệt mai trên chiếc dĩa trà, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn.

Rồi tôi dành dụm, xây được căn nhà nhỏ ở gần đồn Mang Cá. Chuẩn bị đón cái Tết đầu tiên trong ngôi nhà mới, tôi tự nhủ: “Phải kiếm một cành mai thật đẹp để chưng cho thỏa lòng”. Theo chỉ dẫn của bạn bè, tôi lên miệt vườn Dương Xuân ở ngoại ô xứ Huế để tìm mua mai. Khi theo chân người chủ vườn mai ra sau vườn để chọn mai, tôi gặp một người đàn ông tóc hoa râm, mặc quân phục với quân hàm đại tá, đang đứng trầm ngâm trước ngôi mộ nhỏ ẩn dưới tán mai vàng. Một bó hoa, ba nén nhang tỏa mùi trầm và người đàn ông thì rưng rưng nước mắt. Chủ vườn thì thầm với tôi: “Khi tôi đến lập vườn ở đây thì ngôi mộ đã có từ trước. Tết nào tôi cũng thấy ông ấy đến đây thắp hương rồi đứng cả tiếng đồng hồ trước mộ. Ông ấy là người Bắc, rất kín tiếng. Tôi nghe người ta nói người nằm dưới mộ là một cô giao liên người Huế, hy sinh trong chiến dịch Xuân 68. Hình như đó là người yêu của ông ấy thì phải”. Tôi thắc mắc: “Thế tại sao ông ấy không thông báo với chính quyền để đưa cô ấy về yên nghỉ trong nghĩa trang liệt sĩ thành phố”. “Vấn đề là ở chỗ đó. Hình như ông ấy vẫn muốn giữ cô ấy cho riêng mình thì phải. Con người ta, ai cũng có những góc kín trong lòng và trong đời, người ngoài không nên can thiệp vào, dù sự can thiệp đôi lúc tỏ ra có lý. Có lý nhưng chưa hẳn có tình”.

Đã mười mấy cái Tết trôi qua, thi thoảng, tôi lại suy ngẫm về câu trả lời của người chủ vườn mai năm nọ. Lâu không có dịp trở lại chốn cũ, không rõ ngôi một cô giao liên ấy có còn nằm dưới tán mai vàng và vị đại tá có còn đến thăm cô vào mỗi dịp xuân về nữa hay không? Hỏi lòng là vậy nhưng tôi tin chắc rằng ông vẫn đến. Người Huế vốn thủy chung, yêu một người con gái Huế hẳn ông cũng thủy chung như họ vậy.

Khi sang Nhật du học, tôi phải đón một cái Tết lạnh lẽo và cô đơn nơi xứ người. Trước Tết, nghe nói có một cửa hiệu ở Tokyo, do một người Việt làm chủ, chuyên bán đồ ăn Việt Nam và có bán cả hoa mai mang từ bên nhà sang. Tôi vội vàng gửi e-mail, đặt mua một gói mứt gừng, một cặp bánh chưng, một khoanh chả lụa, một chai Nếp Mới và… một cành mai. Đến tối, tôi nhận được e-mail trả lời: “Cửa hàng bán mứt gừng, bánh chưng, chả lụa và rượu, còn mai thì được ‘tặng’ miễn phí”. Bốn ngày sau, một chiếc xe dừng trước cửa căn hộ tôi ở. Người phát hàng giao cho tôi mứt gừng, bánh chưng, chả lụa và rượu và… một tấm thiệp in hình một cành mai vàng thật đẹp và lời chúc mừng năm mới bằng tiếng Việt và tiếng Nhật của ông chủ cửa hàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi có Tết mà không có mai. Tự dưng thấy lòng xót xa bởi một nỗi nhớ mai vô hạn.

Tôi hỏi mấy người bạn Nhật Bản rằng xứ Phù Tang có hoa mai hay không? Họ nói có. Người Nhật gọi hoa mai là ume hana và hoa mai Nhật Bản chỉ nở vào cuối tháng Hai, đầu tháng Ba, trước khi sakura (hoa anh đào) nở độ một tháng. Tôi hồi hộp chờ đến ngày đó, mua vé tàu đi ngắm mai nở dưới chân thành cổ Osaka. Cùng đi với tôi là Junko Kusaka, cô bạn người Nhật cùng làm việc với tôi ở Trung tâm nghiên cứu văn hóa cổ đại Shimane. Phải mất ba lần chuyển tàu, chúng tôi mới đến được tòa thành cổ Osaka. Nhìn thấy hai chữ 梅 林 (mai lâm: rừng mai) ở lối vào vườn mai, tôi khấp khởi mừng vì sắp được ngắm một rừng mai vàng rực như ở chốn quê nhà sau một cái Tết vắng mai.  Nhưng hồi hộp bao nhiêu thì tôi càng thất vọng bấy nhiêu khi trước mắt tôi không hề có bóng dáng của một cánh mai vàng. Thay vào đó là một rừng mai đỏ, mai trắng, muôn hồng nghìn tía. Hóa ra, mai của người Nhật không như mai Huế. Đó là hồng mai, bạch mai, chứ không phải hoàng mai.

Tác giả trong vườn mai Nhật Bản ở Hoàng cung Kyoto, tháng 3/2013)

Tác giả trong vườn mai Nhật Bản ở Hoàng cung Kyoto, tháng 3/2013)

Vậy là cái tôi nhớ nhung, cái tôi thèm muốn được nhìn, được ngắm chính là hoàng mai, là mai vàng xứ Huế chứ không phải một thứ mai nào khác. Sao thế nhỉ! Họ hàng mai vốn có nhiều loại, loại nào cũng đẹp, cũng thơm, nhưng sao ta chỉ nặng lòng với mình ngươi: mai vàng ơi!

T.Đ.A.S.

(In trên tạp chí Văn hóa Quảng Nam Xuân Ất Mùi. Số 112/2015, bút danh Trân Huyền)

Van hoa Quang Nam 2015

Bài này đã được đăng trong Hồn cố đô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s