PHONG VỊ TẾT HUẾ

Trần Đức Anh Sơn

Người xưa có câu “Tam nhật chi nội” ám chỉ Tết nhứt chỉ diễn ra trong ba ngày: mồng Một, mồng Hai và mồng Ba. Hết mồng Ba coi như hết Tết. Song trên thực tế, Tết của Huế đã bắt đầu từ những ngày đầu tháng Chạp, khi con cháu rủ nhau ra đồng hay về quê chạp mả, rước tổ tiên về ăn Tết, và kéo dài cho đến ngày mồng Bảy tháng Giêng khi làm lễ hạ nêu.

Chạp mả là nghi thức mở đầu cho dịp Tết. Sau khi quét dọn bàn thờ, thay cát mới cho bát nhang và đánh bóng những bộ tam sự, ngũ sự trên bàn thờ gia tiên, người ta chuẩn bị hương hoa đi thăm viếng phần mộ những người thân đã quá vãng. Họ đến đó, dọn dẹp vệ sinh, chăm sóc những luống hoa, búi cỏ nơi phần mộ, rồi thắp mấy nén nhang mời người quá cố về ăn Tết với gia đình. Với những người còn giữ những liên hệ ruột rà nơi quê quán thì lúc này chính là dịp họ trở về thăm bà con nơi quê cũ, biếu người này hộp trà, người kia quả mứt để đón Tết. Ðành rằng, người xứ quê có thể mua sắm thật dễ dàng những thứ ấy nơi chợ huyện, chợ làng, nhưng họ thật sự trân quý những món quà này bởi đó là tấm lòng của những người ly hương nhưng không ly tổ. Và họ cũng hào hiệp đáp lễ người miệt phố bằng dăm ba ký nếp, cân đậu hay nhành mai chúm chím nụ vàng, lòng những mong cái Tết nơi phố phường sẽ thấm đẫm tình quê hương bản quán.

Sau chạp mảlễ cúng ông Táo. Người Huế chỉ làm lễ cúng ông Táo, không cúng ông Công như người Bắc. Lễ cúng ông Táo ở Huế diễn ra vào sáng sớm ngày 23 tháng Chạp. Trước lễ, lư hương đã được thay cát mới, bàn thờ ông Táo được lau dọn tinh tươm. Sau lễ, tượng ba ông Táo cũ bằng đất nung được tiễn khỏi bàn thờ bếp, đưa đến đặt cạnh các am miếu ở đầu xóm, hay ở dước gốc cổ thụ cạnh ngã ba đường. Tượng ba ông Táo mới được rước lên bàn thờ, bắt đầu “nhiệm kỳ” một năm coi sóc bếp núc cho gia chủ. Trong sáng ngày 23 tháng Chạp còn có lễ dựng nêu ở trước sân nhà, sân đình. Cây nêu làm bằng tre, còn giữ chùm lá tươi ở trên ngọn. Sau khi dựng nêu, người ta dùng vôi bột vẽ thành hình bộ cung tên ở dưới chân cây nêu. Đó là dấu hiệu báo cho ma quỷ biết đây là địa phận của người, chớ nên lai vãng.

Hoa giấy Thanh Tiên vào phiên chợ Tết. Ảnh: Hoàng Xuân Trí

Hoa giấy Thanh Tiên vào phiên chợ Tết. Ảnh: Hoàng Xuân Trí

Những ngày cuối cùng của tháng Chạp là những ngày bận rộn nhất của phụ nữ Huế. Đây là lúc các bà, các cô, các chị trổ tài nữ công gia chánh. Ngày trước, dường như người ta tự làm tất cả các món ăn mặn ngọt, chay tịnh… mà không phải mua thứ gì. Tết Huế có hàng trăm món ăn: mặn thì có bánh tét, dưa món, thịt bò dầm nước mắm, giò heo bó, chả thủ, nem tré, kim chi chuối chát, hành muối, kiệu chua …; ngọt thì đủ loại mứt bánh: mứt gừng, mứt dừa, mứt khoai lang, mứt bí đao, mứt hạt sen, mứt me, mứt cốc, mứt xoài, bánh in, bánh thuẫn, bánh dẽo, bánh bó, chè xanh đánh, chè đông sương, chè khoai tía… Ðồ ăn mặn có món gì thì đồ chay có món đó. Huế vốn nổi tiếng với các món cỗ chay cao cấp trong cung đình xưa và hầu hết các bà nội trợ đất thần kinh đều biết nấu được một, hai món chay đặc sắc. Nhờ thế mà cỗ chay ngày Tết rất phong phú và đặc sắc. Ngày nay, tuy hàng quà bánh trái tràn ngập chợ Tết nhưng đa phần phụ nữ Huế vẫn thích tự mình làm các món nhắm như thịt dầm, kim chi và đặc biệt là dưa món, thứ không thể thiếu trong Tết Huế.

Nghệ nhân Hoàng Anh và những món mứt cung đình do chị tái hiện. Ảnh: Hoàng Thụy

Nghệ nhân Hoàng Anh và những món mứt cung đình do chị tái hiện. Ảnh: Hoàng Thụy

Ngày 25 tháng Chạp, không khí Tết đã cận kề, cũng là lúc người Huế bắt đầu lễ cúng tổ nghềlễ cúng tất niên. Lễ cúng tổ nghề diễn ra ở phường hội nghề nghiệp, Mỗi phường nghề có một ngày cúng tổ riêng. Sau lễ cúng này, đa phần các phường nghề tạm ngưng hoạt động để đón Tết, trừ nghề thợ may và nghề cắt tóc vẫn hành sự cho tới chiều 30 Tết. Ở lối xóm, lối phố thì có lễ cúng tất niên. Sau một năm tất bật mưu sinh, lễ cúng tất niên là dịp để những người láng giềng ngồi lại với nhau, cùng nhau nâng chén rượu ngon tiễn đưa năm cũ, đón chào năm mới, thấm đượm tình làng nghĩa xóm.

Lễ cúng xóm nhân dịp tất niên. Ảnh: Cảnh Tăng

Lễ cúng xóm nhân dịp tất niên. Ảnh: Cảnh Tăng

Lễ cúng tất niên ở tư gia diễn ra muộn hơn, thường vào chiều 30 Tết. Sau lễ cúng trên bàn thờ mời tổ tiên về “ăn Tết”, các thành viên trong gia đình hội ngộ với nhau bên mâm cơm chiều cuối năm. Mỹ tục này được người Huế duy trì từ bao đời nay nên dù đi làm ăn xa hay gần, thì đến chiều 30 Tết ai ai cũng tìm cách đoàn tụ với gia đình trong “bữa cơm đặc biệt” này. Không chỉ đoàn tụ với người sống, họ còn muốn tìm trong khoảnh khắc thiêng liêng này hình ảnh những người thân đã khuất bóng.

Vào thời khắc chuyển sang năm mới, người Huế tổ chức cúng giao thừa. Lễ vật cúng giao thừa được bày biện ở ngoài sân lẫn trong nhà và đều là cổ chay bởi lễ cúng này “vắt” đêm 30 năm cũ sang sáng mồng Một năm mới. Người Huế trước đây đa phần theo đạo Phật nên ngày mồng Một phải cúng chay, ăn chay. Mâm cúng ngoài trời là để đưa đón các vị Hành khiển, diễn ra trước lúc giao thừa ít phút. Mỗi năm có một vị Hành khiển trông coi cõi hạ giới. Đến lúc giao thừa, vị Hành khiển cũ ở hạ giới phải bàn giao chức trách cho vị Hành khiển mới đến từ thượng giới. Vì việc bàn giao và tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị Hành khiển chỉ có thể ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Vì thế mà người Huế phải bày biện mâm cúng ngoài trời cho kịp thời gian của các vị Hành khiển. Lễ cúng trong nhà diễn ra vào đúng thời điểm chuyển sang năm mới là để cầu xin tổ tiên “phù hộ độ trì” cho con cháu trong gia tộc một năm mới may mắn, an khang.

Khác với ngoài Bắc, ở Huế không có tục hái lộc đầu năm nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau khi giao thừa. Nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở Huế vẫn giữ nguyên lộc biếc suốt cả mùa xuân. Mấy năm gần đây, nhà nước có tổ chức cầu truyền hình đêm giao thừa nên một bộ phận cư dân Huế, nhất là lớp trẻ, đã biết ra khỏi nhà vào đêm trừ tịch, song ít ai trở về nhà sau lúc giao thừa. Ấy là bởi cái tục đạp đất. Người Bắc cũng có lệ xông đất, nhưng dân Huế đã gọi rất đúng tên cổ tục này: đạp đất. Không ai muốn về nhà sau giao thừa cũng bởi họ muốn tránh việc đạp đất nhà mình. Người ta mong người đến đạp đất nhà mình vào sáng mồng Một Tết là những người chức sắc, có học vấn, hay là người nhẹ vía, để tài lộc, may mắn sẽ theo họ đến với gia đình suốt cả năm sau đó. Nhiều gia đình ở Huế còn “lệnh” cho con cái, đứa nào “nặng vía” thì sáng mồng Một không được dậy sớm, có tỉnh giấc thì cũng phải nằm yên, chờ đứa khác “nhẹ vía” hơn, được cha mẹ còm – măng từ trước Giao thừa, đặt chân xuống đất trước, lúc đó những đứa khác mới được ra khỏi giường.

Sáng mồng Một, nghi lễ đầu tiên là lễ cúng Nguyên đán. Đó là lúc người Huế làm lễ cúng chay trên bàn thờ tổ tiên. Lễ vật là trầm trà, mứt bánh…, đơn giản nhưng tinh khiết. Sau lễ ấy, gia chủ mới mở cửa đón khách đến nhà thăm Tết. Sáng mồng Một người Huế thường đi chùa lễ Phật trước tiên, sau đó mới đi viếng mộ tổ tiên, thắp hương nhà thờ họ, đi thăm ông bà, cha mẹ bên chồng, bên vợ… Việc chúc Tết thầy, viếng thăm bạn bè, đồng nghiệp thường là vào ngày mồng Hai, mồng Ba. Từ ngày mồng Một trở đi, mỗi ngày phải cúng 3 lần (sáng – trưa – chiều) trên bàn thờ tổ tiên. Ngày Sóc cúng chay, ngày thường cúng mặn. Ðến chiều mồng Ba thì làm mâm cơm cúng đưa để tiễn ông bà về lại cõi trên.

Nói đến Tết Huế tất phải nói chuyện chơi. Dân Huế xưa chơi Tết thật lắm trò. Không kể những trò trong cung vua phủ chúa, trò vui nơi thôn dã cũng đã phong phú. Trò chơi tập thể có hội bài chòi, đu tiên, đua ghe, đấu vật… Nơi đầu đường, góc phố có trò chơi bài vụ, trò bầu cua tôm cá… Trong gia đình có hội bài tới, xăm hường, tứ sắc, bài cẩu… Sau này, đu tiên vắng bóng, bài chòi chỉ còn lại nơi thôn dã, nhưng hội đua ghe trên sông Hương và vật võ làng Sình (Phú Mậu, Phú Vang) vẫn duy trì đều đặn. Hàng năm, trong công viên Thương Bạc vẫn diễn ra hội chợ với các trò vui xuân có thưởng và trong các gia đình người Huế tiếng gieo xúc xắc của trò xăm hường vẫn rộn vang trong ba ngày Tết.

Bài tói ngày xuân. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Bài tói ngày xuân. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Chiều ngày mồng Bảy tháng Giêng, sau lễ hạ nêu thì một chu kỳ lễ Tết ở Huế mới tạm coi là hoàn tất. Gọi là tạm bởi vì sau lễ hạ nêu, người Huế vẫn phải thực thi nhiều lễ nghi khác như lễ cúng đầu năm, lễ dâng sao, lễ cúng rằm Nguyên tiêu… Hậu duệ Nguyễn Phước tộc còn tổ chức lễ dâng hương đầu năm mới trong Thế Miếu, nơi thờ các vua triều Nguyễn, hay đi viếng mộ phần tổ tiên nơi các lăng tẩm ở ngoại ô.

Lễ nghi, cúng kiếng trong dịp Tết ở Huế, xưa cũng như nay, là một bộ phận hợp thành của văn hóa Huế. Người Huế coi đó là những nghi thức thiêng liêng, cần phải duy trì và trao truyền cho hậu thế. Đến lượt mình, các thế hệ hậu duệ người Huế tự nguyện tiếp nhận và thực hành các nghi lễ ấy, coi đó là cách thức “liên kết” với tổ tiên, thần Phật và làm phong phú đời sống tâm linh của họ, dẫu rằng, những lễ nghi ấy đã “lấy mất” khá nhiều thời gian “ăn Tết” và “chơi Tết” của người Huế.

Nhưng Tết Huế mà thiếu vắng những lễ nghi ấy thì không thành Tết.

T.Đ.A.S.

(Bài đăng trên tạp chí Văn hóa Quảng Nam Xuân Ất Mùi. Số 112-2015)

Van hoa Quang Nam 2015

Bài này đã được đăng trong Hồn cố đô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s