PHÂN TÍCH NGHỆ THUẬT “ĐỐ HÌNH – CHƠI CHỮ” TRONG NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ TRUNG HOA

Nguyên tác: Ni Yibin; Chuyển ngữ: Trần Đức Anh Sơn Nguyễn Xuân Trà My

Lý Thương Ẩn (813 – 858), thi sĩ thời Đường (618 – 907) từng viết hai câu thơ: 春蠶到死絲方盡.蠟炬成灰淚始乾 (Xuân tàm đáo tử ti phương tận. Lạp cự thành hôi lệ thủy can: Tằm xuân đến chết mới hết nhả tơ. Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt) để nói lời nguyện ước với người yêu trong một cuộc tình buồn. Hai biện pháp tu từ thể hiện trong hai câu thơ này thường được sử dụng rất nhiều trong nghệ thuật tạo hình cũng như trong văn học Trung Hoa. Một biện pháp tu từ thể hiện rất rõ ở đây là biện pháp ẩn dụ: nhà thơ sử dụng hình ảnh ngọn nến rơi nước mắt cho đến khi tàn lụi để diễn tả nỗi buồn khôn nguôi của ông khi xa người thương. Bất kỳ ai cũng có thể hiểu và đánh giá cao biện pháp ẩn dụ này kể cả khi không am hiểu văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên, còn có một biện pháp khác mang đặc trưng của văn hóa Trung Hoa cũng được sử dụng, là biện pháp chơi chữ trong ngôn ngữ Trung Hoa. Việc dùng chữ 絲 (ti: sợi tơ) là cách chơi chữ từ thời Đường, vì trong tiếng Hoa, chữ 絲 đồng âm với chữ 思 (tư: suy nghĩ, tương tư), đều đọc là si. Theo cách chơi chữ này, ẩn nghĩa của câu thơ thứ nhất trong hai câu thơ trên là: “Ta sẽ không ngừng tương tư nàng cho đến khi ta chết”. Từ xưa, trong lịch sử Trung Quốc, nghệ thuật chơi chữ trong văn chương cũng được áp dụng trong nghệ thuật tạo hình, đó chính là nghệ thuật đố hình – chơi chữ của người Trung Hoa.

1. Nguồn gốc và sự phát triển của nghệ thuật đố hình – chơi chữ trong văn hóa tạo hình Trung Hoa được phản ánh trong thư tịch

Nghệ thuật đố hình được thể hiện theo cùng một nguyên tắc với nghệ thuật chơi chữ, đó là sử dụng sự vật để truyền đạt ý nghĩa thông qua các hình ảnh vay mượn, được gọi là ‘trung hình hữu ý’ (trong hình ảnh có hàm ý) và những biện pháp chơi chữ trong văn chương như Lý Thương Ẩn đã sử dụng.

Những nghiên cứu dân tộc học cho thấy trước khi chữ viết ra đời, thì sự vật đã được sử dụng để truyền đạt ý nghĩ của con người. Chẳng hạn, trong cộng đồng người Zaiwai thuộc tộc người Jingpo ở tỉnh Vân Nam, khi một chàng trai gửi cho một cô gái chiếc lá puran, thì ngụ ý rằng “ta muốn đến nhà nàng”, vì trong ngôn ngữ của người Zaiwai, puran là đồng âm với đến.

Các thư tịch cổ cũng chỉ ra một số trường hợp và những ảnh hưởng của việc dùng sự vật để biểu đạt ý nghĩ. Thiên đệ Tam trong sách Luận ngữ của Khổng Tử có chép chuyện Công tước Ai hỏi Tể Ngã, một môn đồ của Khổng Tử, về vấn đề liên quan đến đàn tế Đất. Tể Ngã trả lời rằng đàn tế mà người nước Chu xây cho thần Đất là một cái bàn thờ được làm từ gỗ cây dẻ. Việc chủ tâm dùng gỗ cây dẻ này nhằm gửi một thông điệp đến các tín đồ rằng họ phải tôn trọng thần Đất. Đây là một kiểu chơi chữ, vì trong chữ Hán, cây dẻ là 栗 (lật), đồng âm với 慄 (lật), nghĩa là ‘run sợ’.

Sách Tuân Tử do triết gia thời Chu là Tuân Khanh (300 – 230 trước CN) biên soạn, cho biết: “Khi những vị quan bị bãi nhiệm, họ được nhà vua ban cho một chiếc nhẫn bị nứt, gọi là 玦 (quyết) hàm ý ‘chấm dứt’. Nếu được nhà vua lưu dụng thì họ sẽ được ban một chiếc nhẫn còn nguyên, gọi là 環 (hoàn). Sở dĩ như vậy là vì trong tiếng Hoa, chữ 玦 (quyết: chiếc nhẫn bị nứt) đồng âm với chữ 絕 (tuyệt: chấm dứt một mối quan hệ), đều phát âm là jue.

Một giai thoại về truyền thuyết Hồng Môn Hội do sử gia nổi tiếng Tư Mã Thiên (145 – 85 trước CN) kể lại rằng: Phạm Tăng, quân sư của Hạng Vũ, đã ba lần ra tín hiệu cho chủ soái cơ hội thuận lợi để giết Lưu Bang đã đến, bằng cách mang một vật trang sức bằng ngọc bị vỡ, vì vật trang sức bằng ngọc bị vỡ, chữ Hán là 玦 (quyết), đồng âm với chữ 决 (quyết) có nghĩa là ‘quyết định’. Tuy nhiên, cuối cùng Hạng Vũ vẫn để cho Lưu Bang rời khỏi trại, để rồi sau đó Lưu Bang trở thành người sáng lập vương triều Tây Hán (206 – 208 trước CN).

Vào thời Đường, vương quốc Nam Chiếu (729 – 1253) ở tỉnh Vân Nam triều cống cho nhà Đường một loại dược thảo gọi là 當歸 (đương quy), vốn được sử dụng rộng rãi trong y học Trung Hoa. Trong trường hợp này, đương quy được vương quốc Nam Chiếu dùng để chuyển tải thông điệp rằng họ chấp nhận thần phục nhà Đường. Việc dùng đương quy ở đây là một hình thức chơi chữ, hàm ý ‘đương (đang) quy thuận một người nào đó.

Thật dễ dàng để nhận thấy rằng nghệ thuật đố hình chơi chữ được phát triển từ một kiểu giao tiếp, lấy sự vật làm phương tiện, thông qua hình thức chơi chữ: ý nghĩa hàm chứa trong sự vật có thể biểu đạt bởi chính bản thân của các sự vật ấy.

Một trong những dẫn chứng điển hình về nghệ thuật đố hình có nguồn gốc từ thời Hán (206 trước CN – 220 sau CN), khi mà chữ 祥 (tường) dùng để chỉ ‘điềm tốt lành’ hoặc ‘điềm may’, thường thể hiện bằng hình ảnh của một con dê (hoặc con cừu), hoặc là được viết bởi chữ 羊 (dương: con dê, con cừu)(1), vì vào thời này, chữ 祥 và chữ 羊, trong tiếng Hoa đều đọc là yang (dương). Sự tích này được ghi lại trong sách Thuyết văn giải tự (do Hứa Thận biên soạn vào thế kỷ thứ 2 sau CN), cuốn tầm nguyên Hán tự từ điển đầu tiên được biên soạn theo ngôn ngữ tượng hình.

Trong cuốn Lệ tục, là một tuyển tập các áng cổ văn của Trung Hoa do học giả thời Tống là Hồng Quát (1117 – 1184) biên soạn, có một số bản cổ văn thời Hán đã sử dụng chữ 羊 (dương: dê/cừu) để biểu đạt ý nghĩa của chữ 祥 (tường: điềm lành). Một ví dụ khác là dòng chữ: 宜侯王大吉羊 (nghi hầu vương đại cát dương: thích hợp với quý tộc và vua chúa và mang lại điều tốt lành nhất), khắc trên một con dao bằng đồng, cũng phản ánh việc dùng chữ 羊 (dương) để biểu đạt ý nghĩa của chữ 祥 (tường).

Vào năm 1965, một bức tranh minh họa cho Mahamegha-sutra (Đại vân kinh), được phát hiện bên dưới lớp sơn cuối của bức tranh vẽ cảnh địa ngục trên bức tường phía nam hang số 321 tại Mạc Cao Quật (động Mạc Cao) ở Đôn Hoàng. Trong bức bích họa này, chữ 曌 (Chiếu), là chữ mà nữ hoàng Võ Tắc Thiên (684 – 704) tự đặt ra để làm tên của bà (武曌: Võ Chiếu), được thể hiện bằng hình ảnh hai bàn tay nắm trọn mặt trời và mặt trăng trên một biển mây mênh mông giữa bầu trời, ám chỉ bà là nhật nguyệt đương không, mà Đại vân kinh đã tiên đoán đó là mệnh trời. Trong trường hợp này, nguyên lý ẩn sau đồ án trang trí này khác với nghệ thuật đố hình – chơi chữ trong văn hóa tạo hình Trung Hoa sau này. Hình ảnh những tinh tú như mặt trời, mặt trăng và bầu trời là những bộ phận hợp thành chữ 曌 (Chiếu).(2) Hình ảnh giản lược của chiếc đầu dê trên những viên ngói câu đầu thời Hán chỉ là một trường hợp cá biệt, và chữ 曌 (Chiếu) trong tên của Võ Hậu được xây dựng theo nguyên tắc “hội ý”, là một nguyên tắc “phi ngữ âm”.

Tuy nhiên, những bức vẽ xưa nhất hiện còn của nghệ thuật đố hình – chơi chữ được sáng tạo từ sự hợp thành của hình ảnh và sự vật, chẳng hạn như bức tranh vẽ các hình tượng có liên quan với nhau trong cùng một lĩnh vực được phát hiện trong sưu tập những bức tranh được cho là tác phẩm của các họa sĩ sống vào thời Ngũ Đại Thập Quốc (907 – 960) và thời Tống (960 – 1279) sáng tác. Bức họa về các loài bích điển hoa nổi tiếng, thường được trang trí trong các lâu đài với hàm ý 玉棠富貴 (ngọc đường phú quý: lâu đài bằng ngọc tỏ sự giàu sang) có trong sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc (Đài Loan) do họa sĩ Từ Hi thời Nam Đường (937 – 975) vẽ, là sự kết hợp từ các loài hoa: ngọc lan, hải đường và mẫu đơn.

Hoa ngọc lan, chữ Hán là 玉蘭 và hoa hải đường là 海棠. Kết hợp âm tiết thứ nhất của ngọc lan và âm tiết thứ hai của hải đường sẽ tạo thành ngọc đường (玉棠), có nghĩa là ‘lâu đài bằng ngọc’, được coi là công trình kiến trúc tráng lệ nhất mà con người thời đó tưởng tượng ra. Cùng với hoa mẫu đơn, vốn được xem là biểu tượng của sự giàu sang phú quý từ thời nhà Đường, một thủ pháp đố hình – chơi chữ ra đời với những hình ảnh của các loài thảo mộc được sắp xếp một cách tự nhiên.

Một tác phẩm khác sáng tác vào thời Tống, có trong sưu tập của Bảo tàng Cung điện Quốc gia ở Đài Bắc, là bức tranh 安和图 (An hòa đồ: bức tranh về sự thanh bình và hòa hợp), được vẽ bởi một họa sĩ hàn lâm ẩn danh. Nội dung bức vẽ gồm hai yếu tố chính: mấy con chim cút (鵪鶉: am thuần) và vài bụi lúa (禾: hòa). Bức tranh diễn đạt ý nghĩa ‘an hòa’ do kết hợp âm tiết đầu tiên của từ am thuần (chim cút) là chữ 鵪 (am), tiếng Hoa đọc là an, đồng âm với chữ 安 (an: yên ổn), và chữ 禾 (hòa: cây lúa), đồng âm với chữ 和 (hòa: hòa bình, hòa hợp) để biểu đạt chủ đề 安 和 (an hòa), nghĩa là ‘yên ổn và hòa hợp’.

Học giả thời Minh là Diệp Thịnh (1420 – 1474) kể lại trong tác phẩm Thủy Đông nhật ký của ông: “Lương Ích, một nho sĩ thời Nguyên đến từ Tam Sơn đã viết lời đề từ cho bức tranh ‘Tam điểu’ của Hoàng Quan (khoảng năm 903 – 965) rằng: ‘Hình tượng có trên các bức tranh hàn lâm phản ánh cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Những bức tranh thời này phản ánh về ba bộ kinh của Nho giáo là: Kinh Thi, Kinh Lễ và Kinh Xuân Thu. Ngày nay, những bức tranh vẽ hình ba con gà trống (ngụ ý ‘ba vị công tước hay người quý tộc’), năm con chim (ám chỉ ‘năm tầng lớp quý tộc là: công, hầu, bá, tử, nam’), những con chim đầu bạc (tượng trưng cho ‘bậc trưởng lão đáng kính’), đôi chim hỉ thước (hàm ý ‘song hỉ’), những con chim, hươu, ong và khỉ (thể hiện lời ‘cầu chúc những điều tốt đẹp nhất, bổng lộc và chức tước’), đại bàng và gấu (biểu trưng cho ‘người anh hùng’). Tất cả đều tuân thủ cùng một tập quán”.

Lời văn của Diệp Thịnh đã cung cấp những chứng cứ về mặt thư tịch cho thấy nghệ thuật đố hình – chơi chữ có thể bắt nguồn từ thời Ngũ Đại Thập Quốc. Và giống như nhiều truyền thống khác của Trung Hoa, nó vẫn tồn tại và thậm chí hưng thịnh dưới thời cai trị của Mông Nguyên.

Vào thời Minh (1368 – 1644), hoàng đế Tuyên Đức (trị vì: 1426 – 1435) đã tự mình vẽ một số bức họa theo thể loại đố hình này. Một bức tranh hiện vẫn còn tồn tại, vẽ hình một con dê và hai con cừu là biểu đạt câu thành ngữ 三陽開泰 (tam dương khai thái), dựa trên quẻ 泰 (Thái) trong Kinh Dịch. Quẻ này được thể hiện bởi ba vạch liền () ở phía dưới, tượng trưng cho hào 陽 (dương) và ba vạch đứt (– –) ở phía trên, tượng trưng cho hào 陰 (âm). Quẻ này tượng trưng cho tháng Giêng trong âm lịch. Hàm ý ẩn trong bức tranh này là 陽 (dương), nguồn năng lượng của vũ trụ, sẽ mang mùa xuân đến cho trái đất sau một mùa đông lạnh giá và một tương lai đầy hứa hẹn sắp xảy đến. Thông điệp này được diễn tả bằng hình ảnh, thông qua mối liên hệ đồng âm giữa 羊 (dương), nghĩa là ‘dê, cừu’ với 陽 (dương), nghĩa là ‘mặt trời, khí dương’.

Truyền thống này được tiếp tục cho đến giữa triều Minh, khi mà họa sĩ hoàng cung Lữ Kỷ (1477 – ?) sáng tác không chỉ đơn thuần nhằm thỏa mãn thị giác, mà kích thích cả khối óc và con tim. Điều này được ghi nhận bởi hoàng đế Hoằng Trị (trị vì: 1488 – 1505) khi ông cho rằng: “Những bức họa của Lữ Kỷ đã nắm bắt tinh thần của sự vật dưới một hình thức khác thường. Những chủ đề trong các bức họa của ông như ‘Hoàng đế biết lắng nghe những lời can gián’ và ‘Liêm khiết vạn tuế’ đã quan tâm đến tình hình chính trị, cần được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác như là báu vật. Lữ Kỷ có khả năng thể hiện sự khéo léo của mình vì mục đích cổ vũ”.

Do những bức tranh kiểu này có nhiều tác dụng: tuyền truyền, giáo dục, cũng như trang trí, và liên quan đến những vấn đề văn hóa và xã hội quan trọng, nên thủ pháp này vẫn tiếp tục phát triển dưới thời nhà Thanh kế tiếp (1644 – 1911). Trong văn khố của Sở Nội tạo có ghi nhận vào năm 1731 hoàng đế Ung Chính (trị vì: 1723 – 1735) đã sử dụng nghệ thuật đố hình – chơi chữ khi yêu cầu vẽ lên món đồ sứ mà ông đặt làm hình chín con chim cút và một con chim trĩ đuôi dài, hàm ý 久安長治 (cửu an trường trị: mong cho đất nước được yên ổn lâu dài và thịnh trị mãi mãi).

Tuy nhiên, kiểu thức trang trí như trên không được đề cập trong bất kỳ một tư liệu nào. Có một cách giải thích về đồ án trang trí gồm chín con chim cút và một cây cao. Chín con chim cút, chữ Hán là 久鹌 (cửu am), là cách chơi chữ với 久安 (cửu an: yên ổn lâu dài) do trong tiếng Hoa 久鹌 và 久安 đều phát âm là jiu an. Tuy nhiên, một chi tiết khác trong bức tranh là 長树 (trường thụ: cây cao) thì lại gây tranh cãi. Có ý kiến cho rằng lẽ ra phải là 長 枝 (trường chi: cành cây dài). Sự khác nhau giữa hai đồ án này là do đồ án đầu tiên(3) sử dụng biện pháp chơi chữ dựa theo cách phát âm của phương ngữ Ngô ở miền nam Trung Hoa, trong khi biện pháp chơi chữ trong đồ án thứ hai(4) lại dựa theo cách phát âm của phương ngữ miền bắc.

Một dẫn chứng cho kiểu thức trang trí này được tìm thấy trên một chiếc bình đời Ung Chính có trong sưu tập của Quỹ Percival David (ảnh 1). Chiếc bình này vẽ hình con chim trĩ màu vàng với một chiếc đuôi dài tha thướt, đối diện là một con chim cút. Trong đồ án này, chim trĩ đuôi dài được gọi là 長雉 (trường trĩ), chơi chữ với trường trị (長治: thịnh trị mãi mãi), do trong tiếng Hoa cả hai đều phát âm là chang zhi. Có nhiều cách đố hình – chơi chữ dựa trên nguyên lý giản lược, có nghĩa là không phải tất cả những gì có trong thông điệp đều liên quan đến hình tượng trang trí, mà chỉ một vài hình tượng tiêu biểu mới được dùng để truyền thông điệp đến người thưởng thức. Chẳng hạn, hình ảnh ba con dê (tam dương) nhưng lại hàm ý cho toàn bộ thành ngữ 三陽開泰 (tam dương khai thái). Xét theo nguyên lý giản lược này và dựa vào việc nó không còn được sử dụng thường xuyên trong các đồ án đố hình – chơi chữ sau này, có thể thấy rằng chiếc bình trên là một trong những sản phẩm đặc biệt làm riêng cho hoàng đế Ung Chính.

Ảnh 01

Ảnh 01

Sự tồn tại của chiếc song bình đời Càn Long, có đề tài nguyên gốc thể hiện rõ ràng đồ án trang trí 久安 (cửu an) càng khẳng định điều trên. Hình trang trí ở một bên của chiếc bình là một con chim trĩ với cái đuôi rất dài. Có thể suy đoán mặt bên kia của chiếc bình là hình ảnh của mấy con chim cút. Như vậy có thể có một mối liên hệ giữa yêu cầu của hoàng đế Ung Chính với sự tồn tại của đề tài này và điều này hẳn là sự thật thông qua các đồ án trang trí vẽ chim trĩ đuôi dài và những con chim cút, gọi là 久安長治 (cửu an trường trị), với một biến thể giản lược là 久安 (cửu an).

2. Những giả thiết về sự phổ biến của thủ pháp đố hình – chơi chữ trong nghệ thuật trang trí Trung Hoa

Tiếng Hoa có nhiều từ ‘đồng âm, dị nghĩa’ hơn bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới. Tiếng Hoa phổ thông chỉ có khoảng 400 âm tiết đầy đủ và 1.300 biến thể khi phát âm, cho nên ngôn ngữ này có từ ‘đồng âm dị nghĩa’ nhiều hơn tiếng Anh hay tiếng Pháp. Đây là kết quả logic của sự xung đột giữa bộ phát âm hạn chế và nhiều khái niệm phát sinh trong giao tiếp.

Theo đó, sự hạn chế của các hình thái âm thanh trong vốn từ vựng hiện có của tiếng Hoa là do thiếu những cụm phụ âm trong cấu trúc âm tiết và xu hướng đơn âm trong hình thái cổ của tiếng Hoa, khác với trạng thái từ vựng của nhóm ngôn ngữ sử dụng bảng chữ cái Latin (chẳng hạn như tiếng Anh), vốn bao hàm nhiều từ vựng đa âm tiết nhất và thường có nhiều nhóm phụ âm hơn (đặc biệt như trong tiếng Czech).

Một số phương ngữ ở Trung Hoa có vốn từ vựng với rất nhiều từ đơn âm tiết, một số từ vựng đơn âm tiết vẫn tồn tại trong các phương ngữ đương thời như tiếng Quảng Đông và nhiều từ trong số này đã chuyển đổi hình thức của các từ vựng đơn âm tiết sang vốn từ vựng của tiếng  Hoa hiện đại (tiếng Bắc Kinh). Một trong những ví dụ của khuynh hướng này là 美 (mỹ), vốn là một từ đơn âm tiết, có nghĩa là ‘xinh đẹp’, đã đổi thành một từ đa âm tiết là 美麗 (mỹ lệ), cũng có nghĩa là ‘xinh đẹp’. Mặt khác, sự phát triển từ xưa của hệ thống chữ viết ‘phi ngữ âm’ (ngược với hệ thống chữ viết theo bảng chữ cái Latin rất phổ biến ở phương Tây) với lối diễn đạt nhanh trong tiếng Hoa, càng thêm củng cố khuynh hướng này. Kết quả là trong nhiều từ vựng đơn âm tiết, có nhiều từ được dùng để chỉ một số khái niệm như: 福 (phúc), 壽 (thọ), 官 (quan)…, hiện vẫn tiếp tục được sử dụng trong văn viết.

3. Lược sử về việc nghiên cứu nghệ thuật đố hình – chơi chữ Trung Hoa

Mặc dù phổ biến trong đời sống, song ở Trung Hoa thời trước không có một nghiên cứu đáng kể nào, của bất kỳ ai trong văn giới Trung Hoa về nghệ thuật ưu việt này. Lý do có thể là tuy có một số tác phẩm đố hình – chơi chữ được lan truyền rộng rãi, nhưng phần lớn các tác phẩm đó không được giới học thuật coi là có giá trị nghiên cứu. Một lý do khác là đối với những người có học vấn và hiểu biết thì hiện tượng này là quá hiển nhiên và không đáng để nghiên cứu một cách nghiêm túc.

Công trình nghiên cứu độc lập và quan trọng đầu tiên về đề tài này được thực hiện bởi Nozaki Nobuchika, một thương gia Nhật Bản làm việc ở Trung Quốc. Kết quả là cuốn sách tham khảo có tựa đề Kissho zuan kaidai Shina fuzoku no ichi kenkyu (Lý giải về những biểu tượng hàm ý tốt lành – Nghiên cứu về một khía cạnh của phong tục Trung Quốc), được xuất bản ở Thiên Tân vào năm 1928. Cuốn sách này tập hợp khoảng 185 loại hình đố hình – chơi chữ, mỗi một loại hình đều được giải thích tường tận ý nghĩa (chủ yếu bàn về cách chơi chữ, có kèm dẫn chứng minh họa).

4. Phân tích nghệ thuật đố hình – chơi chữ

Khi sáng tạo những tác phẩm đố hình – chơi chữ, các nghệ nhân và họa sĩ cố gắng khai thác những hình tượng thu hút họ trong đời sống hằng ngày, hầu hết là những cảnh tượng tự nhiên, hoặc một số hình ảnh do họ tưởng tượng ra và kết hợp chúng với nhau.

Nguyên lý cơ bản của nghệ thuật đố hình – chơi chữ thể hiện thông qua sự tương tác giữa hình ảnh, tự dạng chữ Hán và cách phát âm. Nói chung, sự thể hiện của nghệ thuật đố hình – chơi chữ dựa trên mối liên kết ‘đồng âm dị nghĩa’ giữa hình tượng và văn tự. Mối liên kết đó không chỉ thể hiện giữa những văn tự định danh cho hình tượng với từ ngữ chuyển tải thông điệp, mà còn hiện diện giữa những từ ngữ đóng vai trò tương tác trong các yếu tố hình tượng với những từ ngữ đóng vai trò chuyển tải thông điệp. Bởi vì đây là một hiện tượng có vai trò thay thế, nên ba yếu tố chủ yếu trong nghệ thuật đố hình – chơi chữ chưa được định danh thích hợp. Trong nghiên cứu này, tôi muốn gọi những hình tượng hiện diện trong đồ án trang trí là ‘hình tượng biểu thị’, phần chơi chữ do chuyển hóa từ những hình tượng hiện diện là ‘yếu tố chơi chữ’, và sau cùng là ‘thông điệp biểu thị’. Như trong ví dụ đơn giản nhất, hàm ý ‘may mắn’ (福) với hình ảnh con dơi (蝠), thì hình con dơi là ‘hình tượng biểu thị’, chữ 蝠 là ‘yếu tố chơi chữ’, và khái niệm ‘may mắn’, được thể hiện bởi chữ 福 là ‘thông điệp biểu thị’.

Trong một tác phẩm đố hình – chơi chữ, tên gọi các sự vật trong tác phẩm là đồng âm, hay thậm chí giống hệt với sự diễn đạt ngụ ý và tác phẩm kiểu này được mong đợi gợi mở quá trình chuyển dịch “hình ảnh – âm thanh – âm thanh – ý nghĩa” trong ký ức của người xem (trái ngược với kiểu giải mã ‘ý nghĩa – hình ảnh’, vốn đơn giản và trực tiếp hơn như trong trường hợp hình ảnh con rồng năm móng biểu hiện cho quyền uy hoàng đế). Bởi vì quy trình này mang yếu tố của ngôn ngữ học, nên người thưởng thức, nếu không am hiểu sẽ không thể giải mã được ý nghĩa ẩn dụ của loại hình nghệ thuật này. Vì vậy, những tác phẩm nghệ thuật này có thể được xem như là những tác phẩm được sáng tạo thuần túy vì mục đích thẩm mỹ hoặc mang tính tường thuật đối với những người đến từ các nền văn hóa khác.

Mặc dầu, mục đích cơ bản của nghệ thuật đố hình – chơi chữ là biểu thị hàm ý thông qua mối quan hệ giữa sự vật biểu thị (hình ảnh) và sự vật được biểu thị (thông điệp), nhưng không phải tác phẩm đố hình – chơi chữ nào cũng đạt đến mục đích theo cùng một cách thức. Trong phần tiếp theo của bài này, tôi sẽ giới thiệu một khung nguyên tắc tổng quát trong việc sáng tạo nghệ thuật đố hình – chơi chữ thông qua việc khảo sát hơn 400 loại hình đố hình – chơi chữ, được tạo thành từ sự kết hợp của hơn 100 yếu tố cơ bản mà tôi đã thu thập được. Khung nguyên tắc này nhằm liệt kê những phương pháp sáng tạo nghệ thuật đố hình – chơi chữ khác nhau của văn hóa tạo hình Trung Hoa trong việc diễn tả hàm ý.

Trên một góc nhìn khác, cùng một hình ảnh có thể mang những ý nghĩa khác nhau qua những cách trình bày khác nhau hay qua những nhóm sự vật khác nhau, nghĩa là, hình ảnh của một sự vật có thể biểu thị nhiều ý niệm. Mặt khác, những hình ảnh khác nhau có thể biểu thị cho cùng một ý niệm trong những cách trình bày khác nhau.

Giống như từ ‘con dơi’ mang ý nghĩa là ‘một loài động vật’ trong một bối cảnh, và là ‘một cây gậy’ trong một bối cảnh khác, hay hình ảnh con hươu (鹿: lộc) có thể biểu đạt khái niệm lộc (禄: bổng lộc) như trong một đồ án đố hình – chơi chữ có tên là bách lộc đồ (百禄图), trang trí trên một chiếc chậu nuôi cá vẽ men ngũ thái (năm màu) thời Thanh (ảnh 2). Chiếc chậu này vẽ hình 100 con hươu (ảnh 3), chữ Hán là lộc (鹿), là một cách chơi chữ với lộc (禄: bổng lộc). Đồ án trang trí này hàm ý ‘chúc có nhiều bổng lộc’. Mặt khác, hình ảnh con hươu có thể diễn đạt thành ngữ đắc lộ (得路), nghĩa là ‘thi cử đỗ đạt’ trong đồ án tam nguyên đắc lộ (三元得路) hàm ý ‘chúc đỗ đầu trong ba kỳ thi’.

Ảnh 02

Ảnh 02

Ảnh 03

Ảnh 03

Tương tự, hình ảnh những con cừu và dê, chữ Hán đều viết là 羊 (dương), có thể biểu thị cho chữ tường (祥: điềm tốt lành) như đã xuất hiện trên một bức phù điêu bằng gạch thời Hán, hoặc biểu thị cho chữ dương (陽: mặt trời, dương khí) trong đồ án tam dương khai thái (三陽開泰) xuất hiện trên một chiếc bình đời Càn Long (ảnh 4).

Ảnh 04

Ảnh 04

Cả hai cách diễn đạt ‘ốc sên’ và ‘chậm như sên’ có thể được dùng để biểu thị hình tượng chiếc đĩa, vì thế, hai hình tượng khác nhau có thể có cùng một hàm ý. Vào thời Minh – Thanh, chim hạc được xem là biểu tượng của quan lại hàm nhất phẩm (一品: hạng nhất), được thêu trên bổ tử của quan phục nhất phẩm và vì thế chúng được gọi là nhất phẩm điểu (一品鳥: chim hạng nhất). Kết quả là trong nghệ thuật đố hình – chơi chữ, chim hạc thường được sử dụng với hàm ý chúc ai đó được thăng quan đến hàm nhất phẩm trong triều đình. Hình ảnh những con hạc đang bay trang trí trên chiếc chóe men trắng vẽ lam thời Minh (ảnh 5) hàm ý nhất phẩm cao thăng (一品高升: chúc được thăng quan đến hàm nhất phẩm); hình ảnh ‘những con chim hạng nhất’ này đang bay qua những đám mây, chữ Hán là cao thăng (高升: lên cao), thể hiện một địa vị cao sang.

Ảnh 05

Ảnh 05

Mặt khác, cùng hàm ý nhất phẩm (一品) nhưng có thể được diễn tả bởi một hình ảnh hoàn toàn khác biệt, như trong một bức tranh đầy màu sắc của Vu Phi Ám (1888 – 1959) (ảnh 6). Hình ảnh hoa sen màu đỏ đang khoe sắc là điểm nhấn trong bức tranh này. Họa sĩ giải thích ý nghĩa của bức tranh trong lời đề từ: “Sách giáo khoa về hoa sen xếp những đóa hoa khoe sắc đỏ thắm là loại hoa sen thượng hạng. Vì vậy, ta vẽ bức tranh này để hàm ý ‘chúc ngài được mặc bộ triều phục nhất phẩm’ (一品朝衣: nhất phẩm triều y).

Ảnh 06

Ảnh 06

Khái niệm 玉 (ngọc) cũng có thể được biểu thị bằng những hình tượng khác nhau. Trên một bức tranh của Triệu Chi Khiêm (1829 – 1884) (ảnh 7), giống như bức tranh của Từ Hi đã được đề cập ở phần trên, hoa ngọc lan (玉蘭) được dùng để biểu thị cho khái niệm 玉 (ngọc). Khi kết hợp với hoa thủy tiên (水仙), bức tranh này hàm ý sự tôn vinh cốt cách của bậc quyền quý là ngọc đường tiên phẩm (玉堂仙品), nghĩa là ‘một cốt cách như của các vị tiên sống trong lâu đài bằng ngọc’. Trong đồ án đố hình – chơi chữ này, hàm ý tiên phẩm (仙品) được thể hiện bởi hình ảnh hoa thủy tiên thông qua âm tiết thứ hai trong danh xưng bằng Hán tự của loài hoa này 水仙 (thủy tiên), nghĩa là ‘tiên nước’.

Ảnh 07

Ảnh 07

Ngược lại, khái niệm ngọc (玉) cũng có thể được biểu thị bằng hình ảnh con cá. Sự giàu có của gia tộc trong truyền thống Trung Hoa được ca ngợi là kim ngọc mãn đường (金 玉 满 堂: vàng ngọc đầy nhà). Thành ngữ này được diễn đạt sinh động với hình vẽ cá vàng trong hồ nước hay trên tô chậu. Trên một bức tranh khuyết danh trong Bảo tàng Nghệ thuật Lee Kong Chian, hình những con cá vàng được vẽ rất sống động cùng với những chiếc lá sen ở trong một hồ nước (ảnh 8). Trong đồ án này, kim ngư (金魚: cá vàng) tạo thành một kiểu chơi chữ với kim (金: vàng) và ngọc (玉: ngọc bích), do trong tiếng Hoa kim ngọc (金玉) phát âm là jinyu, đồng âm với kim ngư (金魚: cá vàng), còn cái hồ đầy cá, chữ Hán là mãn đường (满塘), tiếng Hoa đọc là man tang, lại đồng âm với chữ mãn đường (满堂: đầy nhà).

Ảnh 08

Ảnh 08

Kiểu thức đơn giản nhất trong mối liên quan giữa ba yếu tố của thủ pháp đố hình -chơi chữ (gồm ‘hình tượng biểu thị’, ‘từ vựng chơi chữ’ và ‘thông điệp biểu thị’) là sự thể hiện của một mối liên hệ “đồng âm dị nghĩa” trực tiếp trong tên gọi của những hình ảnh biểu thị (chẳng hạn như: động vật, cây cối…) Đó là sự kế tục hoàn toàn của âm thanh, tên gọi, hình tượng trang trí trong những cách thức trang trí của trò chơi chữ đầy ý nghĩa.

Đồ án đố hình – chơi chữ hàm ý thanh bạch liêm khiết (清百廉洁: trong sạch và liêm khiết) được thể bằng hình ảnh của bốn loại cá (ảnh 9). Tên của các loại cá này là thanh (鯖), bạch (鱍), liên (鰱), quyết (鱖), ghép lại thành câu: 鯖鱍鰱鱖, tiếng Hoa đọc là qing bo lian jue, gần giống câu qing bai lian jue (清 百 廉 洁: thanh bạch liêm khiết), một lời khuyên bảo dành cho những ai đang nắm quyền lực và là tuyên ngôn được ưa chuộng về sự tự tu dưỡng.

Ảnh 09

Ảnh 09

Tương tự, chữ xuân yến (春燕: chim én ngày xuân) đã trực tiếp góp phần vào một thông điệp thi vị diễn tả đồ án hoa điểu trên một cái bát đời Càn Long vẽ hình những con chim én và cành hoa mơ (ảnh 10). Đồ án đố hình – chơi chữ này được sáng tạo để tôn vinh một trong những nghi thức quan trọng nhất trong cung đình Trung Hoa. Một bữa tiệc linh đình dành cho những người vừa thi đỗ, theo truyền thuyết, được tổ chức trong một vườn mơ với những cây mơ đang vào mùa hoa nở, hàm ý hạnh lâm xuân yến (杏林春宴: chúc thưởng thức yến tiệc mùa xuân của triều đình trong vườn mơ đang khoe sắc). Hình ảnh hoa mơ dùng để chuyển tải thông điệp về một khu vườn mơ, trong khi chim én lại được dùng như một ‘thông điệp biểu thị’ của trò đố hình này. Chữ 春燕 (xuân yến: chim én ngày xuân) là hình thức chơi chữ của 春宴 (xuân yến: yến tiệc mùa xuân), tiếng Hoa đều phát âm là chun yan. Nắm bắt được ý nghĩa của hình vẽ sẽ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa và bối cảnh hình thành nên món đồ ngự chế quý giá này.

Ảnh 10

Ảnh 10

Thông thường, chỉ một phần trong tên gọi của ‘hình tượng biểu thị’ được dùng để diễn tả ‘thông điệp biểu thị’. Loài chim sơn ca được người Trung Hoa gọi là 白头翁 (bạch đầu ông), nghĩa đen là ‘ông lão đầu bạc’ vì đốm lông màu trắng trên đỉnh đầu của chúng, và hình ảnh của chim sơn ca thường được sử dụng trong nghệ thuật đố hình – chơi chữ để gợi lên hình ảnh của một người đang an hưởng tuổi già, như được thể hiện trên chiếc bình sứ đời Càn Long có trong sưu tập của Quỹ Percival David (ảnh 11). Một bố cục hài hòa và sống động với hình ảnh ‘hai con chim có bộ lông màu lục, lam và trắng đang đậu trên những khóm hoa mẫu đơn hồng và trắng’, như tàng ẩn những dấu hiệu hướng người xem đến những giá trị thẩm mỹ cao hơn. Có lẽ, chiếc bình này ra đời vào thời thịnh trị của hoàng đế Càn Long và cũng có thể đó món quà mừng sinh nhật của ông. Thông điệp gửi gắm trong trò đố hình này là thành ngữ bạch đầu phú quý (白頭富貴: chúc ngài an hưởng tuổi già giàu sang), một câu chúc thọ được người Trung Hoa ưa thích.

Ảnh 11

Ảnh 11

Thông thường, mối tương quan giữa hình tượng và hàm ý phức tạp hơn mối tương quan giữa tên gọi của hình tượng với nội dung hàm ý. Một phương thức khai thác mối tương quan giữa các hình tượng biểu thị có mối quan hệ với nhau. Khi diễn tả một người đang hoan hỉ, người Trung Hoa dùng thành ngữ hỉ thượng mi sao (喜上眉梢: niềm vui ở trên đỉnh lông mày) và thể hiện điều đó bằng hình ảnh những con chim hỉ thước (喜鹊: chim ác là) đậu trên ngọn cây mai (梅梢) (ảnh 12). Hình ảnh này hàm ý ‘chúc niềm vui đến ngay trước mắt’.(5)

Ảnh 12

Ảnh 12

Mối tương quan kiểu này còn thể hiện trong hai đồ án trang trí khác. Trong đồ án quan thượng gia quan (官上加官) hàm ý ‘chúc tiếp tục thăng quan’ hay ‘chúc nghiệp làm quan thông suốt’ (ảnh 13), thể hiện hình ảnh một con gà trống có cái mào đỏ rực đứng cạnh khóm hoa mào gà, chữ Hán là kê quan hoa (雞 冠花), là hình thức chơi chữ với từ quan (官: quan lại). Theo đó, sự lặp lại của từ quan (冠: cái mũ, cái mào)(6) là hình thức sử dụng các từ ‘đồng âm, dị nghĩa’ giữa hai từ 冠 và 官, đều phát âm là quan, để diễn tả thành ngữ quan thượng gia quan (官上加官), nghĩa là ‘chức quan đứng trên tất cả các chức quan khác’.

Ảnh 13

Ảnh 13

Tương tự là trường hợp bức tượng làm bằng gốm phủ men tam thái, thể hiện hình con ngựa cõng một con khỉ trên lưng (ảnh 14) hàm ý ‘chúc thành công trong nghiệp làm quan’ bằng việc thêm một yếu tố thời gian: mã thượng (馬上), để nhấn mạnh hiệu quả biểu thị. Yếu tố chơi chữ ở đây là mã thượng (馬上), trong tiếng Hoa vừa có nghĩa là ‘trên lưng ngựa’, vừa có nghĩa là ‘ngay lập tức’. Kết hợp với hình ảnh biểu thị là con khỉ, chữ Hán là 猴 (hầu), đồng âm với 候 (hầu: tước hầu). Vì thế pho tượng khỉ cưỡi trên lưng ngựa hàm ý thông điệp mã thượng phong hầu (馬上封候: chúc sớm được phong tước hầu).

Ảnh 14

Ảnh 14

Không chỉ có tên của sự vật mà hoạt động được diễn tả trong đố hình – chơi chữ cũng góp phần thể hiện hàm ý. Một dẫn chứng cho hình thức này là đồ án vẽ hình một người đang tắm rửa cho con voi. Hàm ý của đồ án này được thể hiện thông qua hoạt động được miêu tả cũng như thông qua hình ảnh. Ngoài ra, còn có một điều thú vị là có nhiều cách hiểu khác nhau đối với đồ án trang trí này tùy thuộc vào các đối tượng xã hội khác nhau. Khi đồ án này xuất hiện trên chiếc bình sứ đời Thuận Trị (1644 – 1661) (ảnh 15), lời đề từ trên chiếc bình truyền đạt ý tưởng: hãy tẩy sạch tâm trí tất cả những hiện tượng của thế giới bên ngoài, vốn được cho là ảo tưởng. Tư tưởng gạt bỏ ảo tưởng này được gọi là tảo tượng (掃象: quét sạch mọi ảo giác) được Phật giáo Thiền tông và một số triết gia Dịch học chia sẻ. Hình ảnh thể hiện hành động bằng việc sử dụng cây chổi, chữ Hán là tảo (掃) và hình ảnh con voi, chữ Hán là tượng (象), là ngụ ý và là cách giải thích cho đồ án đố hình này.

Ảnh 15

Ảnh 15

Trong lúc đó, có một dị bản được nhiều người biết đến là cách giải thích khác về đồ án trang trí tương tự trên đây, được thể hiện trên một tác phẩm điêu khắc bằng ngọc vào thời Thanh (ảnh 16). Theo truyền thống Trung Hoa, một năm mới đầy hứa hẹn là sẽ đem lại thái bình (太平). Trong đố hình – chơi chữ, điều ước này có nhiều cách biểu hiện khác nhau, đáng chú ý là việc miêu tả hình ảnh hai chú bé đang tắm cho voi trong tác phẩm điêu khắc bằng ngọc nói trên. Việc hai chú bé tắm (cho con voi), chữ Hán là tẩy (洗) được dùng để biểu thị cho chữ hỉ (喜: tốt lành), do trong tiếng Hoa, 洗 và 喜 đều đọc là xi. Còn chữ tượng (象) có nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là ‘con voi’ và một nghĩa là ‘điềm báo’. Vì thế, tẩy tượng (洗象: tắm cho voi), phát âm tiếng Hoa là xi xiang, cũng đồng âm với hỉ tượng (喜象: điềm tốt lành), hàm ý thái bình hỉ tượng (太平喜象) là lời chúc cho một năm mới hứa hẹn nhiều điều tốt lành.

Ảnh 16

Ảnh 16

Chim ác là đậu trên cành mai và chim én bay lượn trong vườn mơ đang khoe sắc là những cảnh trí tự nhiên, tinh tế và hoàn mỹ. Đôi khi, tác giả của những tác phẩm đố hình – chơi chữ phải nghĩ ra những tình huống với nhiều hình tượng được bố trí theo ý đồ của tác giả để chuyển tải thông điệp hàm ẩn. Những cảnh trí được sáng tạo như vậy có thể gây bối rối cho những người thưởng thức đến từ nền văn hóa khác, kể cả người Trung Hoa nhưng có học vấn hạn chế. Điển hình cho trường hợp này là đồ án vẽ hình một người đàn ông trao cho một người quyền quý chiếc bình đựng ba chiếc kích, được vẽ trên chiếc ống cắm bút có trong sưu tập của Gia tộc Butler (ảnh 17). Hình trang trí này được diễn giải trong vựng tập (catalogue) của một cuộc triển lãm là: “Một người đàn ông tặng cho một vị chức sắc ba vật bằng gỗ có hình thù k quặc”. Thực ra, đồ án này nhằm diễn đạt thông điệp bình thăng tam cấp (平升三级), nghĩa là ‘chúc ba lần thăng quan ngoài mong đợi’. Chiếc bình (瓶), tiếng Hoa đọc là ping, đồng âm với chữ 平, có nghĩa là ‘ngoài mong đợi’ hoặc ‘đáng ngạc nhiên’, còn chữ kích (戟: ngọn giáo), tiếng Hoa đọc là ji, đồng âm với chữ cấp (级: cấp bậc).(7)

Ảnh 17

Ảnh 17

Một đồ án đố hình – chơi chữ khác, hàm ý chi nhật cao thăng (指日高升: chúc mau thăng quan tiến chức) cũng tạo ra những rắc rối khi giải thích (ảnh 18). Một biến thể của đồ án này hiện diện trên một chiếc dĩa sứ men trắng vẽ lam (và tô màu đỏ) dưới lớp men phủ (ảnh 19) có niên đại đời Thiên Khởi (1621 – 1627) thời Minh. Khi giới thiệu trong vựng tập, chiếc dĩa này được chú thích là: (Hình trang trí trên chiếc dĩa này) ngụ ý mặt trăng đang hiện ra sau những đám mây”. Nếu hàm ý thực sự của hình đố này được hiểu đúng, thì hình tròn tô màu đỏ giữa các đám mây sẽ không được coi là ‘mặt trăng’. Mặt trời trong chữ Hán là nhật (日) và hành động đang chỉ vào mặt trời gọi là chi nhật (指日) là một hình thức chơi chữ hàm ý là ‘trong vài ngày tới’ hoặc ‘rất sớm’. Ngoài ra, cao thăng (高升) cũng là một hình thức chơi chữ, nghĩa là ‘lên tận trời cao’ (đối với mặt trời) và là ‘đang thăng tiến trong quan trường’. Sự vật không diễn ra riêng lẽ mà bao giờ cũng có đôi, có cặp.

Ảnh 18

Ảnh 18

Ảnh 19

Ảnh 19

Một trường hợp khác liên quan đến đồ án trang trí này vừa được xuất bản, lời chú thích cho đồ án được viết là: 指日高升 – Rakan chỉ vào Mặt trăng”, mặc dù văn tự được viết trên đồ án và được trích dẫn là 指日高升.(8)

Như đã đề cập trên đây, việc diễn giải các tác phẩm đố hình – chơi chữ không hề đơn giản. Điều này càng khó khăn hơn đối với các tác phẩm đố hình – chơi chữ đương đại, một thực tế đã chứng tỏ đối với việc diễn giải bằng chữ viết, đôi khi cần phải song hành với những hình ảnh minh họa có trong đồ án. Nhu cầu này nhằm giải thích ý nghĩa của một đồ án đố hình – chơi chữ mà sự tượng trưng được sử dụng trong các hình tượng đó thường chỉ có thể hiểu được bởi một số ít người có trình độ. Một điểm cần lưu ý khi ghi chú là những lời thuyết minh cho các đồ án đố hình – chơi chữ  này có cấp độ khác nhau về sự sáng rõ thể hiện trong các thông điệp được truyền đạt. Cách hữu dụng nhất là ứng dụng cả hai đặc trưng ‘sáng rõ’ và ‘hàm ý’ trong cùng một tác phẩm đố hình – chơi chữ, như trong trường hợp bức tranh của Hoàng Miêu Tử (sinh năm 1913). Trong lời đề từ của bức tranh, Hoàng Miêu Tử đề cập cả hai sự vật là nha thị (鴉柿) thể hiện qua hình vẽ con quạ và mấy quả hồng, và nhã sĩ (雅士: người có óc thẩm mỹ tinh tế), là đối tượng trong bức tranh châm biếm của ông (ảnh 20).

Ảnh 20

Ảnh 20

Dĩ nhiên, cách phổ biến nhất khi viết chú dẫn cho các đồ án đố hình – chơi chữ là giải thích rõ ràng thông điệp biểu thị, như trường hợp chiếc dĩa đời Thiên Khởi với lời đề từ chi nhật cao thăng (指日高升) đã được đề cập trên đây, và như trên một chiếc dĩa khác có niên đại vào đầu thời kỳ ‘mạt Minh – sơ Thanh’ (ảnh 21). Với đề tài hạnh lâm xuân yến (杏林春宴), ngoài hình thức giản lược như trên cái bát vẽ chim én và hoa mơ đã đề cập trên đây (ảnh 10), còn có món đồ sứ trang trí đề tài này nhưng tên đề tài là hạnh lâm xuân yến lại được thể hiện đầy đủ. Cần lưu ý rằng loại đồ sứ này để phục vụ cho thị trường bình dân hơn là những món đồ ngự dụng như món đồ được giới thiệu trong ảnh 10. Điều đó đã đáp ứng những tín hiệu đầy triển vọng để kích thích ước mơ thi cử đỗ đạt của hàng vạn người Trung Hoa.

Ảnh 21

Ảnh 21

Đôi khi, do trình độ học vấn của họa sĩ không cao, nên trong chủ đề còn có sự nhầm lẫn trong cách dùng từ, kể cả từ gốc dùng để chơi chữ (tên gọi của hình tượng) lẫn thông điệp biểu thị. Sự nhầm lẫn thường thấy trên những bức tranh khắc gỗ in lịch năm mới, như một ví dụ xuất hiện trong tạp chí Văn hóa và Nghệ thuật Trung Hoa (ảnh 22). Tên đề tài hàm ý trong tác phẩm đố hình – chơi chữ này được viết là 蓮生貴子 (liên sinh quý tử). Đây là sự nhầm lẫn giữa từ gốc của trò chơi chữ, liên (蓮: hoa sen), với ba từ khác có vai trò biểu thị thông điệp, sinh quý tử (生貴子: sinh con trai). Việc các từ bị nhầm lẫn này đứng cạnh nhau đã nảy sinh một nghĩa rất kỳ quặc: ‘Hoa sen sinh quý tử’, nhưng trên thực tế, hàm ý của đề tài này không thể diễn giải như vậy. Bất cứ người nào có óc suy xét cũng hiểu rằng tác phẩm này hàm ý ‘chúc có nhiu quý tử được liên tiếp sinh thành’, chính xác phải được viết là 連生貴子. Trong đồ án này, có bốn hình ảnh biểu thị, là: liên  (蓮: hoa sen), sinh (笙: cây sáo), quế (桂: cây quế ), tử (籽: hạt giống), tiếng Hoa đọc là lian sheng gui zi, đồng âm với thành ngữ: liên (連: liên tục), sinh (生: sinh hạ), quý (貴: quý báu) và tử (子: con trai).(9)

Ảnh 22

Ảnh 22

Trong hầu hết các trường hợp, từ chơi chữ có nguồn gốc trực tiếp từ hình ảnh hiện hữu trong tác phẩm đố hình – chơi chữ  như những ví dụ đã được đề cập trên đây. Tuy nhiên, cũng có những từ chơi chữ khác được thể hiện gián tiếp như các trường hợp dưới đây.

Hệ thống chữ viết Trung Hoa không hình thành từ bảng chữ cái Latin mà bao gồm hàng ngàn chữ tượng hình. Nhiều chữ tượng hình này có hơn một bộ phận hợp thành, thường được gọi là các bộ thủ. Đặc điểm này tăng thêm khả năng sáng tạo nghệ thuật đố hình – chơi chữ dựa trên những hợp phần nhỏ hơn từ gốc. Điều thú vị là, cả hai đồ án biểu thị lời chúc nhị giáp truyn lô (二甲傳臚: chúc thi đỗ ở bảng thứ hai của khoa thi) đều sử dụng nguyên tắc này.

Đồ án đầu tiên thể hiện hình ảnh hai con cua cùng cầm một cây sậy (ảnh 23). Trong đồ án này, yếu tố chơi chữ được biểu thị bởi hình ảnh hai con cua, nhưng không trực tiếp đến từ danh xưng ‘cua’ trong chữ Hán. Thay vào đó, người thưởng thức phải tìm hiểu tên lóng của hình ảnh biểu tượng từ trong dân gian. Trong trường hợp này, hình ảnh của những con cua chỉ là phương tiện ám chỉ tên lóng của chúng là thiết giáp tướng quân (鐵甲將軍: các vị tướng mặc áo giáp sắt), do loài cua có mai cứng như áo giáp. Theo đó, hai con cua được ngầm hiểu là nhị thiết giáp tướng quân (二鐵甲將軍: hai vị tướng mặc áo giáp sắt). Yếu tố nhị giáp (二甲) trong thành ngữ này đã tạo thành yếu tố chơi chữ, vì nhị giáp cũng có nghĩa là ‘bảng thứ hai’. Kết hợp với hình ảnh cây sậy, chữ Hán là lô (蘆), mà những con cua đang cầm, gọi là truyn lô (傳蘆: trao cây sậy), đồng âm với truyn lô (傳臚), nghĩa là ‘xướng danh những người thi đỗ’. Do vậy, hình ảnh nhìn thấy trong bức tranh này tạo thành một biểu tượng sinh động diễn đạt cho lời chúc nhị giáp truyn lô (二甲傳臚: chúc thi đỗ ở bảng thứ hai của khoa thi).

Ảnh 23

Ảnh 23

Biến thể thứ hai là một đồ án gồm hình ảnh hai con vịt và những cây sậy (ảnh 24), bắt buộc phải tìm hiểu về cách cấu thành chữ tượng hình để chuyển hóa ý nghĩa diễn đạt trong đồ án. Phần bên trái của chữ áp (鴨: con vịt) trong chữ Hán là chữ giáp (甲). Chữ giáp có nhiều nghĩa, trong đó có một nghĩa là ‘bảng’. Hai con vịt trong bức tranh ắt phải chứa hai chữ giáp (甲), tức là nhị giáp (二甲). Đây là một là hình thức chơi chữ hàm ý ‘chúc thi đỗ ở bảng thứ hai trong kỳ thi’.

Ảnh 24

Ảnh 24

Vẫn còn một cách thức gián tiếp khác để tìm hiểu ý nghĩa bắt nguồn từ những hình vẽ. Quả vải, hòn đá cuội và quả dẻ đều có hình tròn, chữ Hán là 圓 (viên). Số ba trong chữ Hán là tam (三). Vì vậy, ba vòng tròn là gọi là tam viên (三圓), tiếng Hoa là san yuan, đồng âm với tam nguyên (三元) là ba thứ hạng cao nhất trong ba kỳ thi.(10) Vì vậy, đồ án gồm ba quả vải, ba quả dẻ và ba hòn đá cuội đặt cạnh nhau hàm ý câu chúc liên trung tam nguyên (連中三元: chúc đứng trong cả ba kỳ thi) (ảnh 25).

Ảnh 25

Ảnh 25

Nhiều dẫn chứng mà tôi đã phân tích trên đây cho biết cách làm thế nào để nhận diện những hình tượng có thể giúp ích cho việc tìm hiểu hàm ý ẩn chứa trong những đồ án đố hình – chơi chữ. Đó cũng là những gì có thể giúp ích cho người thưởng thức nhận diện những hình tượng, được thể hiện trong một cách trừu tượng trong các tác phẩm đố hình – chơi chữ. Chẳng hạn, vào dịp Tết Nguyên Đán, người Trung Hoa thường tặng nhau những quả quýt to để chúc may mắn, vì trong chữ Hán quả quýt to là đại quất (大橘), tiếng Hoa phát âm là da ju, gần giống với đại cát (大吉: may mắn lớn), phát âm là da ji. Một bức tranh của Tề Bạch Thạch, in trong cuốn sách Giữa hai nền văn hóa: Những tác phẩm hội họa Trung Hoa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 trong Sưu tập Robert H. Ellsworth tại Bảo tàng Nghệ thuật Quốc gia do Wen C. Fong chủ biên, có tựa đề tiếng Anh là Persimmon (quả hồng vàng) (ảnh 26). Dựa vào hai chữ đại cát (大吉) đề trên bức tranh, có thể nhận biết bức tranh này vẽ quả quýt, song ít ai nghĩ rằng đây là hình ảnh quả quýt.

Ảnh 26

Ảnh 26

5. Kết luận

Một phần quan trọng trong đời sống nghệ thuật truyền thống của Trung Hoa thời phong kiến là những hình ảnh đã được giải mã dựa trên nguyên lý ngôn ngữ và văn hóa đặc trưng. Đó chính là nghệ thuật thơ đố hình – chơi chữ. Việc sử dụng đố hình – chơi chữ như một nguyên lý để chuyển tải những thông điệp riêng (thường là những ước vọng hoặc là những điều thông tuệ) thông qua hình tượng, trong một bối cảnh tự nhiên, là rất phổ biến trong nghệ thuật trang trí dân gian Trung Hoa. Nghệ thuật đố hình – chơi chữ xuất hiện trên các tác phẩm tạo hình cung tiến cho các bậc đế vương, hay do các bậc đế vương đặt hàng cho những họa sĩ chuyên nghiệp thực hiện, trên các bức ‘niên họa’ theo kiểu tranh in mộc bản, cũng như trên những tác phẩm nghệ thuật làm bằng kim loại, gốm, vải, thuộc mọi hoàn cảnh xã hội, từ vua chúa trong triều đình cho đến các bà nội trợ, vượt qua các giới hạn của quyền lực, của cải, học vấn, giới tính và truyền thông. Xét trên diện rộng, nghệ thuật thuật đố hình – chơi chữ đan xen với những đặc trưng văn hóa điển hình của Trung Hoa – hình ảnh đầy hứa hẹn (chẳng hạn như những hình ảnh mang thông điệp tìm kiếm sự may mắn và xua đuổi ma quỷ) – trong đó, phần lớn các tác phẩm đã và đang được sử dụng để thể hiện những khát vọng cơ bản của con người về sự trường thọ, an khang, thịnh vượng và ‘con đàn cháu đống’.

(Dịch từ Oriental Art, Vol. XLIX, No. 3)

Chú thích của người dịch

* TS. Ni Yibin, PGS Nghệ thuật và Văn hóa Trung Hoa (Đại học Quốc gia Singapore), sinh tại Thượng Hải, học tại Thượng Hải và Anh Quốc. Ông đã viết nhiều sách và các vựng tập về nghệ thuật Trung Hoa.

(1) Trong chữ Hán, chữ 羊 (dương) chỉ chung cả hai loài cừu.

(2) Võ Tắc Thiên tạo ra chữ 曌 bằng sự kết hợp của ba chữ: 日 (nhật: mặt trời), 月 (nguyệt: mặt trăng) và 空 (không: hư không, bầu trời), thay vì dùng hình ảnh mỗi tinh tú để diễn đạt âm thanh của một từ định hình nên một thành ngữ.

(3) Tức là đồ án ám chỉ chữ 長 治 (trường trị).

(4) Tức là đồ án ám chỉ chữ長 树 (trường thụ).

(5) Tên gọi loài chim ác là, chữ Hán là hỉ thước (喜 鹊), có âm tiết đầu là hỉ (喜). Vì thế hình ảnh chim ác là ở đây được dùng để ngụ ý cho chữ hỉ (喜: hoan hỉ, vui mừng); còn cụm từ 上眉梢 (thượng mi sao: trên đỉnh lông mày), tiếng Hoa đọc là shang mei shao, đồng âm với 上梅梢 (thượng mai sao: trên ngọn cây mai), nên hình ảnh (chim) đậu đầu cành mai được dùng để ngụ ý cho 上眉梢, nghĩa là ‘(niềm vui) đến ngay trước mắt’.

(6) Thông qua hình ảnh cái mào của con gà trống và những bông hoa mào gà.

(7) Ba chiếc kích ngụ ý thăng một lúc ba cấp, chứ không phải là “ba vật bằng gỗ có hình thù kỳ quặc” – ND.

(8) Ở đây tác giả bài viết muốn đề cập rằng trong câu 指日高升 đã có chữ nhật (日), nghĩa là ‘mặt trời’, nhưng lời thuyết minh vẫn ghi là ‘Rakan chỉ vào Mặt trăng’.

(9) Trong trường hợp này, do học vấn hạn chế nên họa sĩ trong tên đề tài thể hiện trên bức tranh, nghệ nhân đã viết nhầm chữ 連 (liên: liên tục) thành 蓮 (liên: hoa sen).

(10) Tức là 3 kỳ thi: Thi hương, thi hội, thi đình.

Bài này đã được đăng trong Góp nhặt cát đá. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s