DỊCH THƠ ĐỀ TRÊN ĐIỆN LONG AN VÀ TRÊN THẾ MIẾU

Cúc Hiên Lê Phương Duy (phiên âm, dịch nghĩa, chú thích) – Trịnh Bách (dịch thơ)

I. MỘT BÀI THƠ TRÊN ĐIỆN LONG AN

Phiên âm

Hiểu khởi duyệt triệp phê bản đắc cú

Tuế tự tương chu sự cánh phiền,

Sách y muội sảng dĩ lâm hiên [1]

Vạn cơ [2]  thủ đoán kì vô dật [3],

Nhất kỉ trù tư cảm đạn phiền [4].

Ỷ án kim liên do vị triệt,

Liên chương chu bút thận ôn tồn.

Tư tuân nhật nhật  tảo đăng điện,

Quân đạo thân hiền dữ nạp ngôn [5].

Dịch nghĩa

Đắc cú nhân lúc sớm dậy duyệt tập phê bản

Năm tháng trôi đi việc càng nhiều thêm,

Tảng sáng đã tìm áo lên hiên.

Muôn việc phải xét đoán, nên chớ có an nhàn,

Một mình ta suy tính, không dám sợ phiền phức.

Tựa án sen vàng còn chưa bỏ,

Chương tấu liên tiếp, bút son thật bình tĩnh cẩn thận.

Hỏi han các việc, ngày ngày lên điện sớm

Đạo của vua là ở chỗ thân hiền và xuất nạp mệnh lệnh.

Dịch thơ

Năm tháng lần trôi trọng trách thêm

t        T      b     B     t       T       B

Hừng đông đã chỉnh áo lên hiên

b       B      t    T      t    B    B

Muôn điều đợi xét, hòng ngơi nghỉ

b       B     t    T       b      B      T

Đoán nghĩ mình ta, dám ngại phiền

b       T       b       B     t     T      B

Tựa án sen vàng chưa dám dứt

t    T    b      B       b        T     T

Khuyên son cẩn trọng tấu chương lên

b      B    t       T       t       B      B

Ngày ngày tự nhủ ra chầu sớm

b       B     t    T    b    B    T

Quân đạo nghe can, trọng kẻ hiền

T     T       b     B      t      T   B

 II. HAI BÀI THƠ TRONG THẾ MIẾU

Bài số 1

Phiên âm

Kiến đốc cơ cần tích thế nhân,

Chu bang quang đại mệnh duy tân [6].

Ức niên bảo hựu thân hồng huống,

Hải yến hà thanh [7] thái lãng thần.

Dịch nghĩa

Gây dựng, vun bồi nền móng, nối đời siêng năng tích chứa điều Nhân,

Nhà Chu rực rỡ, to lớn, mệnh trời đổi mới.

Muôn năm được trời giúp đỡ,  ban cho phúc lớn,

Biển lặng sông trong, thời đại thái bình.

Dịch thơ

Tạo dựng vun bồi mãi tích nhân

T     T       b     B     t    T      B

Triều Chu cả sáng mệnh duy tân

B      B    t     T       t       B    B

Muôn năm phúc lớn trời ban hưởng

B      B      t    T    b    B     T

Biển lặng sông trong buổi thái bình

t     T      b      B      t       T    B

Bài số 2

Phiên âm

Hán kiếm Đường cung hách hách thanh [8]

Bắc nam cương vực xiển long bình.

Hiểu dương sự nghiệp lưu thiên cổ,

Thanh miếu ung ung [9] tấu Cửu Thành [10].

Dịch nghĩa

Kiếm nhà Hán, cung nhà Đường, danh tiếng hiển hách,

Bờ cõi bắc nam mở ra cảnh thái bình thịnh trị.

Hiển dương sự nghiệp, còn lưu lại nghìn xưa,

Tôn miếu nghiêm trang, tấu lên khúc Cửu Thành.

Dịch thơ

Kiếm Hán cung Đường vẫn nức danh

t         T       b        B        t     T     B

Bắc Nam bờ cõi cảnh thanh bình

b    B     t   T      t        B      B

Hiển dương sự nghiệp lưu kim cổ

b      B       t       T       b    B   T

Tôn miếu trang nghiêm khúc Cửu Thành

T      T      b          B        t       T       B

 —————-

Chú thích

[1] Lâm hiên: Hoàng đế không ngự ở chính điện mà ngự ở phía trước điện, phía trước điện gần thềm hai bên có ván gỗ lắp giống như hiên xe nên gọi như vậy. Thơ Thiếu niên hành của Vương Duy đời Đường có câu: “Thiên tử lâm hiên tứ hầu ấn. Tướng quân bội xuất Quang Minh cung” (Thiên tử lên hiên ban ấn tước hầu. Tướng quân đeo ngọc bội ra khỏi cung Quang Minh).

[2] Vạn cơ: Đã chú.

[3] Vô dật: Không nhàn rỗi an lạc. Thiên Vô dật  – Kinh Thư viết: “Ô hô, quân tử sở kì vô dật” (Ôi! Người quân tử phải ở vào chỗ không nhàn rỗi).

[4] Đạn phiền: Sợ phiền phức. Chiêu công tam niênTả truyện viết : “Duy cụ hoạch lệ, khởi cảm đạn phiền ?” (Chỉ sợ mắc phải sai lầm, sao dám sợ phiền phức?).

[5] Nạp ngôn: Vốn là tên một chức quan thời cổ, có chức năng truyền đạt mệnh lệnh và bẩm cáo ngôn luận lên nhà vua. Thiên Nghiêu điển trong Thượng thư có nói tới chức quan này. Về sau dùng nạp ngôn với nghĩa là thu nhận những lời can gián từ ngôn quan (ngự sử).

[6] Chu bang quang đại mệnh duy tân: Nguyên văn trong bài Văn Vương, phần Đại Nhã Kinh Thi viết: “Chu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân” (Nhà Chu tuy là nước cũ, nhưng mệnh trời ban cho lại mới). Ở đây ví công nghiệp nhà Nguyễn to lớn, sáng rạng như nhà Chu thời xưa, được mệnh trời ban mới).

[7] Hải yến hà thanh: Nói tới cảnh thái bình thịnh trị, quốc thái dân an. Trong bài thơ Cửu nhật khúc trì du thiếu của Tiết Phùng đời Đường có viết: “Chính đương hải yến hà thanh nhật, cánh thị tu văn yển vũ thời” (Đương lúc trời yên bể lặng, đúng là lúc nghỉ việc võ bị, sửa sang việc văn).

[8] Câu này ví công tích mở mang, gây dựng cơ nghiệp của triều Nguyễn to lớn, sánh ngang với nhà Hán, nhà Đường.

[9] Thanh miếu ung ung: Ý nói tới nơi tôn miếu trang nghiêm. Thơ Thanh miếu, phần Chu Tụng Kinh Thi có câu: “Ô mục thanh miếu, túc ung hiển tướng” (Ô! Sâu xa tôn  miếu, kính cẩn hòa hợp rõ ràng giúp đỡ).

[10] Cửu Thành: Tên một khúc nhạc. Thiên Ích Tắc Kinh Thư có viết: “Tiêu Thiều Cửu Thành, phượng hoàng lai nghi” (Chín khúc nhạc Thiều thổi xong, phượng hoàng đến múa). Ý nói cảnh thái bình, thịnh trị.

Bài này đã được đăng trong Di sản văn hóa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s