NGUYÊN TẮC DỊCH THƠ ĐƯỜNG QUA BÀI THƠ “LONG THÀNH HOÀI CỰU”

Trịnh Bách

Người dịch thơ Đường phải chịu nhiều khó khăn hơn người sáng tác thơ. Thay vì được tự do chọn đề và tứ thơ như tác giả của bài thơ gốc, người dịch thơ bị áp đặt cả hai điều đó. Rồi sau đấy vẫn phải áp dụng chặt chẽ các niêm luật của Đường thi. Có thể nói là người dịch phải sáng tác một bài thơ mới với đề bài và tứ thơ của người khác đặt cho.

Nhưng cách diễn dịch ý thơ của tác giả nhiều khi cũng không tránh khỏi yếu tố chủ quan của người dịch. Lấy việc dịch một bài thơ đơn giản, như bài đầu tiên của tác phẩm Chu Nguyên học bộ tập này, làm thí dụ. Bài có đầu đề là “Nhâm Tý đông, phụng mệnh Bắc sứ kinh qua Long Thành hoài cựu” (Mùa đông năm Nhâm Tý [1], phụng mệnh sang sứ phương Bắc, đi qua Long Thành [2] nhớ chuyện cũ). Bài thơ do Cúc Hiên Lê Phương Duy phiên âm, dịch nghĩa và chú thích.

Phiên âm

Nùng sơn Nhĩ thuỷ tịch dương huân,

Chiếu ngã ngâm tỳ bạch kỷ phân.

Nghiễn tịch đồng du hà xứ sở,

Bồi hồi tế mã độc đình vân.

Dịch nghĩa

Ánh tà dương buông trên núi Nùng, sông Nhĩ,

Chiếu lên chòm râu của ta đã bạc mấy phần.

Những bạn cùng học ngày xưa [3] nay ở chốn nào?

Bồi hồi vó ngựa, một mình dừng lại với mây trời. [4]

Khi dịch Đường thi bao giờ cũng phải tuân thủ cả hình thức lẫn nội dung của bài thơ. Về hình thức thì bài thơ này có vần bằng và theo luật bằng. Như vậy các chữ trong toàn bài được sắp xếp theo luật bằng trắc (bt) của một bài thơ luật bằng, vần bằng như sau:

b B t T t B B

t T b B t T B

t T b B b T T

b B t T t B B

Các chữ trong bài thơ đã được dịch, nếu theo đúng niêm luật như thế, phải được viết theo cách sắp xếp như sau:

Dịch thơ

Non Nùng nước Nhĩ bóng chiều rơi

  b      B        t       T      t       B     B

Chiếu ánh râu ta điểm bạc rồi

   t       T       b    B     t      T    B

Bạn học ngày xưa nay vắng cả

  t     T      b      B    b     T     T

Bâng khuâng một ngựa với mây trời

   b         B           t       T       t       B     B

Các vị trí bằng, trắc viết hoa là các vị trí bắt buộc phải theo đúng niêm luật. Còn các vị trí viết chữ thường thì không phải theo luật và gọi là các vị trí bất luận, nghĩa là được miễn luận bàn. Như vậy nếu thông thoáng ra thì bốn chữ ở bốn vị trí mở đầu của câu thứ nhất cũng có thể trở thành t B b T, thí dụ như “núi Nùng sông Nhĩ”. Nhưng chỉ khi kẹt ý mới nên dùng đến thể bất luận.

Về nội dung, đọc qua bài thơ này sẽ thấy tứ của tác giả tập trung vào nỗi buồn về tuổi xế chiều, nhớ thời trẻ nghiên bút với bạn bè, và cảm giác cô đơn. Nhưng quan trọng nhất là ý ở câu cuối: “Bồi hồi tế mã độc đình vân” [5]. Con ngựa nhỏ (tế mã) cùng với nỗi đơn độc cho thấy sự bé nhỏ mong manh, một mình một ngựa của tác giả giữa đất trời. Trong cảnh huống đó, người dịch nên hiểu ý mà không dùng nghĩa đen của đình vân là mây ngừng trôi, vì không dính dáng gì đến nội ý của bài thơ. Thay vì đó nên theo điển tích mà dùng tứ rộng thoáng là đất, trời, mây bao la để phụ họa cho sự nhỏ bé và cô đơn của tác giả.

Chữ Bồi ở đầu câu thứ tư quả là đã đúng với cấu trúc bài thơ, với chữ thuộc vần bằng ở vị trí đó. Nhưng vì đã phải kết thúc câu bằng chữ Trời là một chữ thuộc Phù bình thanh (Bằng nhẹ, tức là dấu huyền), thì không nên mở đầu cùng câu cũng bằng một chữ Phù bình, mà nên đổi thành một chữ thuộc Trầm bình thanh (Bằng nặng, tức là không dấu), như chữ Bâng ở đây, để không bị trùng thanh, mất đi nhạc tính của thơ… Và bài thơ vì thế đã được khiêm dịch như trên.

T.B.

Chú thích:

[1] Nguyên chú: Hàm Phong nhị niên (niên hiệu Hàm Phong thứ hai 1852).

[2] Nguyên chú: Cổ quốc đô (Long thành là kinh đô thời xưa).

[3] Dịch thoát từ chữ Nghiên tịch đồng du nghĩa là (người) cùng chơi chốn chiếu, nghiên (chỉ nơi   học).

[4] Nguyên chú: Long thành nãi dư cựu du học xứ, kim song hữu sách ly, bồi hồi truy ức (Long thành là nơi ta đi học ngày xưa, những bạn cùng học nay đã mỗi người một ngả, nhân đó mà bồi hồi tưởng nhớ).

[5] Đình vân: Bài thơ nổi tiếng của Đào Tiềm (365 – 427) đời Tấn. Đời sau dùng đề bài thơ này làm điển tích cho sự cô đơn, nhớ bạn.

Bài này đã được đăng trong Góp nhặt cát đá. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s