VỀ HUẾ ÐỔ XĂM HƯỜNG VÀ NGẮM HAI BỘ XĂM HƯỜNG CỦA HUẾ XƯA

Trần Đức Anh Sơn

Xam huong 06

Khôi phục trò đổ xăm hường trong chương trình Đêm Hoàng Cung tại các kỳ Festival Huế. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

1. Đổ xăm hường

Đổ xăm hường là một trò chơi tao nhã, có nguồn gốc Trung Hoa, thuở trước rất được người Huế ưa chuộng. Thoạt tiên, trò chơi này xuất phát từ trong Nội, sau phổ biến dần trong dinh thự của các vương tôn, công tử và quan lại triều đình nhà Nguyễn, rồi mới lan truyền ra dân gian.

Xăm có nguồn gốc từ chữ 籤 (thiêm), nghĩa là “cái thẻ”. Hường là lối đọc trại từ chữ 紅 (hồng), nghĩa là “màu hồng”, nhưng do chữ 紅 đồng âm với chữ 洪 trong chữ 洪 任 (Hồng Nhậm) là tên của vua Tự Đức (cầm quyền: 1848 – 1883) nên phải kiêng.

Đổ xăm hường là trò chơi gieo 6 “hột súc sắc” (còn gọi là “hột tào cáo”) để dành những chiếc thẻ khắc chữ màu đỏ, ghi các học vị trong hệ thống khoa cử thời xưa gồm: 秀才(tú tài), 舉 人 (cử nhân), 進 士 (tiến sĩ), 會 元 (hội nguyên), 探 花 (thám hoa), 榜 眼 (bảng nhãn) và 狀 元 (trạng nguyên). Ngay tên gọi của các thẻ xăm cũng đã thể hiện cái nho nhã của trò chơi cũng như tinh thần cầu học và ước vọng khoa bảng của người xưa.

Một bộ xăm hường gồm 3 món chính: những chiếc thẻ xăm, 6 hột súc sắc và chiếc tô bằng sứ sâu lòng để gieo súc sắc (người Huế gọi là “đổ hột”). Ngày trước, người chơi phải nhọc công để tìm cho được một chiếc tô sứ men lam làm từ đời Minh – Thanh ở bên Tàu để tiếng đổ hột mới thanh và vang xa. Riêng bộ thẻ thì tùy mức độ sang hèn của chủ nhân mà được làm bằng ngà voi, xương thú hay cật tre. Nơi điện Hòa Khiêm trong lăng Tự Đức vẫn còn trưng bày một bộ xăm hường làm bằng ngà voi, chạm trổ rất đẹp, vốn là vương bảo của vua Tự Đức. Chủ nhân Ngọc Sơn công chúa từ đường ở đường Nguyễn Chí Thanh vẫn còn lưu giữ được một bộ xăm hường khác, cũng bằng ngà voi, có từ thời vua Đồng Khánh (cầm quyền: 1885 – 1889). Ngày nay, các bộ xăm hường bán ở chợ Đông Ba thường được làm bằng xương, cũng chạm trổ cầu kỳ nhưng các chữ Hán được thay bằng các hình vẽ có màu sắc lòe loẹt và những dấu chấm màu đỏ. Ngoài ra cũng cần phải kể đến chiếc hộp để cất những chiếc xăm và các hạt súc sắc. Đó là những chiếc hộp làm bằng gỗ quý, bên ngoài có các hình trang trí bằng sơn son thếp vàng hay cẩn xà cừ. Như thế mới tương xứng với những “ông trạng, ông nghè” làm bằng ngà voi được cất giữ trong hộp.

Mỗi bộ xăm hường gồm 63 chiếc thẻ. Thẻ có giá trị cao nhất là thẻ trạng nguyên (1 thẻ), được tính tương ứng 32 điểm. Tiếp theo là 1 thẻ bảng nhãn và 1 thẻ thám hoa (16 điểm/thẻ); 4 thẻ hội nguyên (8 điểm/thẻ), 8 thẻ tiến sĩ (4 điểm/thẻ), 16 thẻ cử nhân (2 điểm/thẻ) và 32 thẻ tú tài (1 điểm/thẻ).

Trò chơi dùng 6 hột súc sắc, mỗi hột có 6 mặt khắc các dấu chấm theo thứ tự: nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục. Trong đó, mặt nhấtmặt tứ tô màu đỏ (người Huế gọi là “hường”), các mặt khác được tô màu đen. Khi chơi, người ta gieo cả 6 hột súc sắc vào chiếc tô sứ, rồi căn cứ vào các mặt hiện ra để tính điểm để nhận cho mình chiếc thẻ thích hợp. Số người chơi có thể là 4, 5 hay 6 người đều được. Và tùy theo số người chơi để định ra các lệ luật như “bán trạng”, “mua điểm” và định mức độ ăn thua.

Thang điểm cơ bản dựa trên mặt “tứ” (hường) như sau:

Nhất hường: có 1 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt thẻ tú tài.

Nhị hường: có 2 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt thẻ cử nhân.

Tam hường: có 3 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt thẻ hội nguyên.

Tứ hường: có 4 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt thẻ trạng nguyên.

Ngũ hường: có 5 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt cả 3 thẻ: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa.

Lục phú hường: có 6 mặt “tứ” trong 6 mặt súc sắc hiện ra, đoạt tất cả các thẻ có trong cuộc chơi, kể cả thẻ đã thuộc về tay người khác và được thắng gấp đôi số điểm quy định cho các thẻ. Đây là trường hợp rất hiếm hoi, được coi là tột đỉnh của vận may. Và thường khi đạt được “lục phú hường”, người ta mừng ít, lo nhiều, vì cho rằng sau khi đạt được tột cùng của sự may mắn thì sẽ gặp xui xẻo, nhất là những ai đổ xăm hường trong ngày đầu năm để đoán vận hên xui của mình trong một năm sắp đến.

Người ta còn dựa vào các mặt màu đen để định ra thang điểm thứ hai như sau:

Tứ tự: có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt, đoạt thẻ tiến sĩ.

Tứ tự nhất hường: có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt và 1 mặt “tứ”, đoạt 1 thẻ tiến sĩ và 1 thẻ tú tài.

Tứ tự nhị hường: có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt và 2 mặt “tứ”, đoạt 1 thẻ tiến sĩ và 1 thẻ cử nhân.

Tứ tự hợp xảo (tứ tự cáp): Gồm hai trường hợp: cáp xiên: có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt, 2 mặt còn lại có tổng số điểm bằng 1 trong 4 mặt giống nhau đó, đoạt thẻ bảng nhãn hay thám hoa.

Tứ tự cáp chính: có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt, 2 mặt còn lại giống nhau và có tổng số điểm bằng 1 trong 4 mặt giống nhau kia, đoạt thẻ bảng nhãn hay thám hoa và 1 thẻ hội nguyên.

Ngũ tử: có 5 mặt giống nhau trong 6 mặt, đoạt thẻ trạng nguyên.

Lục phú: có 6 mặt giống nhau, thắng toàn bộ.

Phân song: có 6 mặt nhưng chia làm hai nhóm, mỗi nhóm có 3 mặt giống nhau, đoạt thẻ bảng nhãn hay thám hoa.

Phân song tam hường: có 3 mặt giống nhau và 3 mặt “tứ”, đoạt thẻ bảng nhãn (hay thẻ thám hoa) và 1 thẻ hội nguyên.

Hạ mã: xuất hiện 3 cặp: nhất – nhị – tam, đoạt thẻ bảng nhãn hay thẻ thám hoa.

Thượng mã: xuất hiện 3 cặp: tứ – ngũ – lục, đoạt thẻ bảng nhãn hay thẻ thám hoa.

– Lục thuận: xuất hiện đủ cả 6 mặt: nhất – nhị – tam – tứ – ngũ – lục, đoạt thẻ bảng nhãn hay thẻ thám hoa.

Trên đây là 2 thang điểm chính của trò chơi đổ xăm hường. Ngoài ra, tùy từng trường hợp cụ thể mà định ra cách thức “cướp trạng” khi thẻ này đã về tay người khác, hay cách đoạt các thẻ tương ứng với một thẻ có số điểm cao hơn nhưng đã thuộc về người khác, trước khi người thứ hai đoạt được thẻ đó. Khi người chơi đoạt hết 63 thẻ là lúc cuộc chơi kết thúc. Và người ta dựa vào số thẻ mà những người chơi đoạt được để xác định kẻ thắng người thua.

Xam huong 05

Đổ xăm hường trong chương trình Đêm Hoàng Cung tại các kỳ Festival Huế. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Điều thú vị là trò đổ xăm hường hoàn toàn không có tính sát phạt mà chủ yếu nhờ vào sự may rủi. Người ta thường chơi xăm hường trong những dịp đầu xuân: vừa để giải trí trong mấy ngày Tết; vừa để xem vận hên xui của mình trong một năm hơn là để thỏa mãn thú đỏ đen như những trò cờ bạc khác.

Điều này có lẽ phù hợp với tính cách của người Huế, vì thế nên trò đổ xăm hường mới lan truyền sâu rộng nơi mảnh đất cố đô và vẫn tồn tại cho đến bây giờ.

2. Ngắm hai bộ xăm hường của Huế xưa

Do sự hấp dẫn và tính tao nhã của trò đổ xăm hường nên người Huế rất chuộng trò chơi này. Không kể các bộ xăm hường mới làm sau này, nhiều nơi ở Huế còn lưu giữ được những bộ xăm hường cả trăm năm tuổi. Ở đây tôi xin giới thiệu hai trong số những bộ xăm hường quý hiếm ấy.

2.1. Bộ xăm hường của vua Tự Đức

Có lẽ đây là bộ xăm hường xưa và độc đáo nhất còn sót lại ở Huế. Các thẻ xăm được làm bằng ngà voi, còn chiếc hộp đựng thẻ được làm bằng gỗ mun với các chi tiết trang trí được khảm bằng xà cừ và ngà voi.

Xam huong 01

Bộ xăm hường bằng ngà voi của vua Tự Đức. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Bộ xăm hường này hiện chỉ còn 56 thẻ (mất 7 thẻ), gồm: 30 thẻ Tú tài (thiếu 2 thẻ); 12 thẻ Cử nhân (thiếu 4 thẻ); 7 thẻ Tiến sĩ (thiếu 1 thẻ); 4 thẻ Hội nguyên; 1 thẻ Thám ba; 1 thẻ Bảng nhãn và 1 thẻ Trạng nguyên, trong đó 42 thẻ còn tốt; 10 thẻ bị mòn vẹt và cong vênh do sử dụng lâu ngày và 4 thẻ bị khuyết một phần do ngà voi bị mục nát.

Hình dáng các thẻ đều giống nhau: mỗi thẻ là một phiến ngà dày khoảng 0,15cm đến 0,25cm; phần dưới hình chữ nhật, phần đầu tạo hình bầu rượu 2 eo. Tuy nhiên, kích thước, văn tự và màu sắc của các văn tự khắc trên mỗi loại thẻ thì khác nhau:

– Thẻ Tú tài dài 18,7cm, rộng 1,9cm; mặt trước khắc các chữ: 秀 才 (Tú tài) và 一 注 (nhất chú: 1 điểm); mặt sau khắc các chữ: 一 紅 得 (nhất hường đắc:nhất hường thì đoạt thẻ này). Các chữ khắc trên thẻ Tú tài đều tô màu xanh dương.

– Thẻ Cử nhân dài 19,7cm, rộng 2,2cm; mặt trước khắc các chữ: 舉 人 (Cử nhân) và 二 注 (nhị chú: 2 điểm); mặt sau khắc các chữ: 二 紅 得 (nhị hường đắc: có nhị hường thì đoạt thẻ này). Các chữ khắc trên thẻ Cử nhân đều tô màu đỏ.

– Thẻ Tiến sĩ dài 21,9cm, rộng 2,5cm; mặt trước khắc các chữ: 進 士 (Tiến sĩ) bằng mực xanh và 四 注 (tứ chú: 4 điểm) bằng mực đỏ; mặt sau khắc các chữ: 四 序 得 (tứ tự đắc: có tứ tự thì đoạt thẻ này). Chữ 四 và chữ 得 tô màu đỏ; chữ 序 tô màu xanh.

– Thẻ Hội nguyên dài 22,2cm, rộng 2,5cm; mặt trước khắc các chữ: 會 元 (Hội nguyên) bằng mực đỏ và 八 注 (bát chú: 8 điểm) bằng mực xanh; mặt sau khắc các chữ: 三 紅 得 (tam hường đắc: có tam hường thì đoạt thẻ này) và 四 序 合 巧 得 (tứ tự hợp xảo đắc: có tứ tự cáp thì đoạt thẻ này). Các chữ 三, 得 và 合, 得 tô màu xanh; các chữ 紅, 四 序 và 巧 tô màu đỏ.

– Thẻ Thám ba dài 24cm, rộng 2,8cm; mặt trước khắc các chữ: 探 葩  (Thám ba) và 十 六 注 (thập lục chú: 16 điểm); mặt sau, ở phía trên khắc các chữ: 上 馬 得 下 馬 得  (thượng mã đắc, hạ mã đắc: có thượng mã hay hạ mã thì đoạt thẻ này), phía dưới khắc các chữ: 分 雙 得 六 順 得 (phân song đắc, lục thuận đắc: có phân song hay có lục thuận thì đoạt thẻ này). Các chữ Hán khắc trên cả hai mặt được tô bằng mực xanh và mực đỏ xen kẻ nhau.

– Thẻ Bảng nhãn dài 24cm, rộng 2,8cm; mặt trước khắc các chữ: 榜 眼 (Bảng nhãn) và 十 六 注 (thập lục chú: 16 điểm); mặt sau, ở phía trên khắc các chữ: 上 馬 得 下 馬 得  (thượng mã đắc, hạ mã đắc: có thượng mã hay hạ mã thì đoạt thẻ này), phía dưới khắc các chữ: 分 雙 得 六 順 得 (phân song đắc, lục thuận đắc: có phân song hay có lục thuận thì đoạt thẻ này). Các chữ Hán khắc trên cả hai mặt được tô bằng mực xanh và mực đỏ xen kẻ nhau.

– Thẻ Trạng nguyên dài 26 cm, rộng 3,2 cm; mặt trước khắc các chữ: 狀 元 (Trạng nguyên) bằng mực đỏ và 三 十 二 注 (tam thập nhị chú: 32 điểm) bằng mực xanh đỏ xen kẻ nhau; mặt sau khắc 26 chữ Hán, phân làm 2 dòng, mỗi dòng 13 chữ: 四 紅得五 子 一 色 奪 四 紅 合 巧 奪 五 紅 奪三 魁 六 合 奪 盡籌 六 紅 收 全 局 (tứ hường đắc, ngũ tử nhất sắc đoạt, tứ hường hợp xảo đoạt, ngũ hường đoạt tam khôi, lục hợp đoạt tận trù, lục hường thu toàn cuộc: có tứ hường, ngũ tử, tứ hường cáp thì đoạt thẻ này; có ngũ hường thì đoạt tam khôi (gồm cả thẻ này), có lục hợp đoạt hết thẻ, có lục hường đoạt toàn bộ thẻ và thắng cuộc). Các chữ Hán khắc trên mặt sau được tô bằng hai màu mực xanh đỏ xen kẻ nhau.

So với những bộ xăm hường khác hiện còn ở Huế, bộ xăm hường ở lăng Tự Đức có nhiều điểm khác biệt thật độc đáo và thú vị:

– Thứ nhất, các chữ Hán khắc trên những thẻ xăm, ngoài việc định danh (Tú tài, Cử nhân, Trạng nguyên…) và định giá (nhất chú, nhị chú, tam thập nhị chú…), còn cho biết cách thức đoạt từng loại thẻ như: nhất hường đắc, tứ tự đắc, thượng mã đắc, hạ mã đắc…, đặc biệt, chiếc thẻ Trạng nguyên đã liệt kê đến 6 trường hợp để đoạt được thẻ này.

– Thứ hai, các chữ Hán khắc trên từng loại thẻ có màu sắc khác nhau: có thẻ dùng toàn màu xanh như thẻ Tú tài; có thẻ dùng toàn màu đỏ như thẻ Cử nhân; có thẻ dùng xen kẻ hai màu xanh đỏ nhưng trật tự dùng màu trên mỗi loại thẻ không giống nhau, ví dụ thẻ Thám ba có chữ đầu tiên tô màu xanh, nhưng thẻ Bảng nhãn thì chữ đầu tiên tô màu đỏ, trong khi thẻ Trạng nguyên thì cả hai chữ đều tô màu đỏ.

– Đặc biệt, thay vì dùng chữ 探 花 (Thám hoa) như những bộ xăm hường khác, thì bộ xăm hường của vua Tự Đức khắc chữ 探 葩 (Thám ba). Nguyên nhân việc này là do kỵ húy Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng, mẹ vua Thiệu Trị và là bà nội của vua Tự Đức, nên mới đổi 花 thành 葩, trong khi các bộ xăm hường khác, kể cả bộ xăm hường ở phủ thờ công chúa Ngọc Sơn, con vua Đồng Khánh (sẽ đề cập dưới đây), đều khắc hai chữ 探 花. Điều này cho thấy việc kỵ húy dưới triều Tự Đức rất nghiêm nhặt và chứng tỏ đây là món xăm hường dành cho vua và hoàng gia giải trí.

Ngoài ra, chiếc hộp đựng xăm cũng chứa đựng nhiều điều thú vị. Lòng chiếc hộp chia làm 5 ngăn, để chứa 5 nhóm thẻ khác nhau: Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ, Hội nguyênTam khôi (gồm 3 thẻ: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Đặc biệt, trong lòng chiếc hộp lớn còn chứa một chiếc hộc nhỏ, nằm ở bên trái, sát đáy chiếc hộp. Chiếc hộc này dùng đựng các hột súc sắc, có thể đẩy vào, mở ra dễ dàng và được bố trí rất kín đáo và hài hòa với hình dáng của chiếc hộp đựng thẻ xăm.

Có thể nói rằng bộ xăm hường này của là một vương bảo của triều Tự Đức, một vưu vật còn lưu lại trên đất cố đô.

2.2. Bộ xăm hường ở phủ thờ công chúa Ngọc Sơn

Tại phủ thờ công chúa Ngọc Sơn còn lưu giữ một bộ xăm hường bằng ngà voi, là bảo vật của phò mã Nguyễn Hữu Tiễn. Bộ xăm hường này đã bị mất 4 thẻ, gia chủ đã cho làm lại 4 thẻ khác bằng xương thú để thay thế cho những thẻ đã mất.

Xam huong 03

Bộ xăm hường bằng ngà voi của phò mã Nguyễn Hữu Tiễn hiện đang bảo lưu tại từ đường Ngọc Sơn công chúa (Huế). Ảnh: Trần Đức Anh Sơn.

Những chiếc thẻ giống nhau về hình dáng nhưng khác nhau về kích thước. Thẻ xăm tạo dáng như chiếc biển hiệu dùng trong đội nghi trượng phò vua, với phần thân hình bầu dục, hai đầu tạo hình chiếc khánh, tiếp theo là phần cán chuốt tròn, thon dần về cuối. Tất cả chữ Hán trên thẻ đều được khắc chìm và tô màu đỏ. Cụ thể như sau:

– Thẻ Tú tài: mặt trước khắc 2 chữ: 秀 才 (Tú tài); mặt sau khắc 2 chữ: 一 分 (nhất phân: 1 phần).

– Thẻ Cử nhân: mặt trước khắc 2 chữ: 舉 人 (Cử nhân); mặt sau khắc 2 chữ: 二 分 (nhị phân: 2 phần).

– Thẻ Tiến sĩ: mặt trước khắc 2 chữ: 進 士 (Tiến sĩ); mặt sau khắc 2 chữ 四 分 (tứ phân: 4 phần).

– Thẻ Hội nguyên: mặt trước khắc 2 chữ: 會 元 (Hội nguyên); mặt sau khắc 2 chữ 八 分 (bát phân: 8 phần).

– Thẻ Thám hoa: mặt trước khắc 2 chữ: 探 花 (Thám hoa); mặt sau khắc 3 chữ 十 六 分 (thập lục phân: 16 phần).

– Thẻ Bảng nhãn: mặt trước khắc 2 chữ: 榜 眼 (Bảng nhãn); mặt sau khắc 3 chữ 十 六 分 (thập lục phân: 16 phần).

– Thẻ Trạng nguyên: mặt trước khắc 2 chữ: 狀 元 (Trạng nguyên); mặt sau khắc 4 chữ 三 十 二 分 (tam thập nhị phân: 32 phần).

So với bộ xăm hường của vua Tự Đức, bộ xăm hường này có kích thước khiêm tốn hơn, chữ Hán khắc trên các chiếc thẻ ít hơn, nghĩa các chữ Hán thì đơn giản và chỉ tô màu đỏ. Đặc biệt, trong khi giá trị của các thẻ xăm trong bộ xăm hường ở lăng Tự Đức được tính bằng 注 (chú: nghĩa là điểm hay tiền), thì giá trị của các thẻ xăm trong bộ xăm hường ở Ngọc Sơn công chúa từ đường chỉ được tính bằng 分 (phân: nghĩa là phần hay xu). Phải chăng bộ xăm hường dành cho vua và hoàng gia chơi thì giá trị mỗi thẻ xăm được định giá cao hơn so với giá trị của các thẻ xăm dành cho các cuộc chơi của thần dân?

Trên đây là 2 trong số những bộ xăm hường cổ còn lưu lại trên đất thần kinh. Đó là những cổ vật của một thời vàng son ở Huế; là những vật chứng sống động về một trò chơi tao nhã mà người dân xứ cố đô ưa chuộng. Ngày nay, du khách đến Huế có thể tìm mua các bộ xăm hường trong chợ Đông Ba hay trong các cửa hàng mỹ nghệ. Thời thế đổi thay, những bộ xăm hường hiện đại thường được làm bằng xương thú, kích thước, văn tự vẫn như xưa nhưng hình thức trang trí thì sặc sỡ hơn, màu mè hơn và cái hồn xưa dường như không còn nữa.

Trò xưa còn đó, nhưng hồn xưa đã mất. Thế mới thấy càng thêm trân quý những gì xưa cũ sót lại nơi miền đất Hương Bình, mà hai bộ xăm hường kia là những minh chứng đầy thú vị.

3. Bảng tính điểm trò chơi xăm hường

3.1. Bảng tính điểm dựa trên “mặt tứ”

Tên gọi

Mô tả Thẻ đoạt được Ðiểm số

Nhất hường

Có 1 mặt tứ

trong 6 mặt

Tú tài

1 điểm

Nhị hường

Có 2 mặt tứ

trong 6 mặt

Cử nhân 2 điểm
Tam hường

Có 3 mặt tứ

trong 6 mặt

Hội nguyên

(còn gọi là Hoàng giáp)

8 điểm

Tứ hường Có 4 mặt tứ

trong 6 mặt

Trạng nguyên

(còn gọi là Trạng anh)

32 điểm1

Ngũ hường Có 5 mặt tứ

trong 6 mặt

Ðoạt Tam khôi, gồm 3 thẻ: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa (2 thẻ Bảng nhãn Thám hoa còn gọi là Trạng em)

64 điểm2

(32+16+16) = 64

Lục phú hường

Cả 6 mặt đều là mặt tứ

Ðoạt tất cả các thẻ dù các thẻ này đã có người đoạt trước rồi nhân gấp đôi tổng số điểm

384 điểm

[32+(2×16)+(4×8)

+(8×4)+(16×2)

+(32×1)] x 2 = 384

IMG_2709

Gia đình Người Nước Huệ đổ xăm hường trong Tết Ất Mùi. Ảnh: Trần Đức Anh Sơn.

3.2. Bảng tính điểm dựa trên các mặt khác “mặt tứ”

Tên gọi

Mô tả Thẻ đoạt được Ðiểm số

Tứ tự

Có 4 mặt giống nhau trong 6 mặt Thẻ Tiến sĩ

4 điểm

Tứ tự

nhất hường

Có 4 mặt giống nhau

và có thêm 1 mặt tứ

Thẻ Tiến sĩ + 1 thẻ Tú tài

5 điểm

(4+1)

Tứ tự

nhị hường

Có 4 mặt giống nhau

và có thêm 2 mặt tứ

Thẻ Tiến sĩ + 1 thẻ Cử nhân

(hoặc 2 thẻ Tú tài)

6 điểm

(4+2) hoặc (4+1+1)

 

Tứ

tự

hợp

xảo

(Tứ

tự

cáp)

Tứ

tự

cáp

xiên

Có 4 mặt giống nhau;

2 mặt còn lại có tổng điểm

bằng các mặt kia3

Thẻ Bảng nhãn

hay thẻ Thám hoa

16 điểm

Tứ

tự

cáp

chính

Có 4 mặt giống nhau;

2 mặt còn lại giống nhau

và có tổng số điểm bằng

1 trong 4 mặt kia4

Thẻ Bảng nhãn hay

thẻ Thám hoa

+ 1 thẻ Hội nguyên

24 điểm

Ngũ tử

Có 5 mặt giống nhau Thẻ Trạng nguyên

32 điểm5

Lục hợp

(Lục phú)

 

Có 6 mặt giống nhau

 

Ðoạt toàn bộ các thẻ

192 điểm

32 + (2×16) + (4×8) + (8×4) + 16×2) + (32×1)

Phân song

6 mặt phân đôi, mỗi bên

có 3 mặt như nhau

Thẻ Bảng nhãn

hoặc thẻ Thám hoa

16 điểm
Phân song tam hường Như phân song, nhưng 3 mặt còn lại là 3 mặt tứ Thẻ Bảng nhãn

hoặc thẻ Thám hoa,

+ 1 thẻ Hội nguyên

24 điểm (16+8)

Thượng

Có 3 cặp:

tứ tứ, ngũ ngũ, lục lục

Thẻ Bảng nhãn

hoặc thẻ Thám hoa

16 điểm

Hạ mã

Có 3 cặp:

nhất nhất, nhị nhị, tam tam

Thẻ Bảng nhãn

hoặc thẻ Thám hoa

16 điểm
Lục thuận

(Suốt)

Có cả 6 mặt:

nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục

Thẻ Bảng nhãn

hoặc thẻ Thám hoa

16 điểm

IMG_2713

Người Nước Huệ cũng đổ một ván xăm hường để thử hên xui. Ảnh: Trần Đức Nhật Quang

Chú thích:

1 Trường hợp này hơn nhau tùy thuộc 2 mặt còn lại. Nếu cộng 2 mặt còn lại được 4 điểm gọi là tứ hường hợp xảo (hay tứ hường cáp), do chữ 合 (hợp, còn có âm khác là cáp), là đơn vị đo trọng lượng, nên trong chữ Nôm, cáp có nghĩa là “vốc, nắm”.

Trong các trường hợp này, xếp hạng cao nhất khi 2 mặt còn lại là 2 mặt nhị, gọi là tứ hường cáp chính; hạng tiếp theo là trường hợp 2 mặt còn lại gồm 1 mặt tam và 1 mặt nhất, gọi là tứ hường cáp xiên.

Thứ bậc các hạng còn lại như sau: 4 mặt tứ + 2 mặt lục; 4 mặt tứ + 1 mặt lục + 1 mặt ngũ; 4 mặt tứ + 2 mặt ngũ; 4 mặt tứ + 1 mặt lục + 1 mặt tam; 4 mặt tứ + 1 mặt lục + 1 mặt nhị… (hạ điểm dần dần). Trừ trường hợp tứ hường hợp xảo là hạng cao nhất, rất khó bị cướp trạng, các trường hợp tứ hường khác, nếu người đổ được tứ hường sau nhưng có tổng điểm của 2 mặt còn lại lớn hơn tổng điểm của người đổ được tứ hường trước đó, thì được cướp trạng của người đoạt trước. Nếu người đổ được tứ hường sau, có tổng điểm 2 mặt còn lại nhỏ hơn tổng điểm của người đổ được tứ hường trước đó, thì được đoạt các thẻ còn lại giữa cuộc chơi có tổng điểm tương đương với điểm của thẻ trạng nguyên.

2 Trường hợp này hơn nhau tùy mặt còn lại. Nếu là mặt nhất, thì gọi là ngũ hường đái ấn (ngũ hường đội ấn màu đỏ, tức mặt nhất), xếp hạng cao nhất. Thứ bậc các hạng tiếp theo khi mặt còn lại lần lượt là: lục, ngũ, tam nhị.

3 Tứ tự cáp xiên có 3 trường hợp sau: 4 mặt ngũ + 1 mặt tam + 1 mặt nhị (vì tam + nhị = ngũ); 4 mặt tam + 1 mặt nhị + 1 mặt nhất (vì nhị + nhất = tam); 4 mặt nhất + 1 mặt lục + 1 mặt ngũ (vì lục + ngũ = thập nhất => nhất).

4 Tứ tự cáp chính có 3 trường hợp sau: 4 mặt lục + 2 mặt tam (vì 2 tam = lục); 4 mặt nhị + 2 mặt nhất (vì 2 nhất = nhị); 4 mặt nhị + 2 mặt lục (vì 2 lục = thập nhị => nhị).

5 Thứ hạng của các trường hợp ngũ tử lần lượt là: 5 mặt giống nhau + 1 mặt nhất; 5 mặt giống nhau + 1 mặt tứ; 5 mặt giống nhau + 1 mặt lục; 5 mặt giống nhau + 1 mặt ngũ; 5 mặt giống nhau + 1 mặt tam và 5 mặt giống nhau + 1 mặt nhị. Trường hợp ngũ tử có 5 mặt giống nhau + 1 mặt nhất được gọi là ngũ tử đái ấn, là hạng cao nhất. Thẻ trạng nguyên đoạt được bởi ngũ tử đái ấn chỉ bị cướp trạng khi người đổ sau đổ được ngũ hường, lục hợp hay lục phú hường.

Bài này đã được đăng trong Hồn cố đô. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s