GỐM CHU ĐẬU TRONG CÁC DI CHỈ KHẢO CỔ Ở ĐÔNG NAM Á VÀ NHẬT BẢN

KCH 2a

Hũ gốm Chu Đậu phát hiện ở di chỉ thành Nakijin, Okinawa

Bài và ảnh: Trần Đức Anh Sơn

Tại hội thảo quốc tế về đô thị cổ Hội An tổ chức ở Đà Nẵng vào tháng 3-1990, GS. Aoyagi Yoji, nhà khảo cổ học (KCH) người Nhật Bản, trình bày tham luận “Ðồ gốm Việt Nam đào được ở quần đảo Ðông Nam Á”, cho biết: đến năm 1990 đã có 32 di chỉ khảo cổ ở các nước Đông Nam Á có phát hiện đồ gốm Việt Nam, trong đó, Malaysia có 9 di chỉ, Brunei có 2 di chỉ, Philippines có 10 di chỉ, Indonesia có 11 di chỉ. Những di vật này phần lớn là đồ gốm hoa lam, gồm bát, đĩa, chậu hoa, hũ và đồ uống trà… được phát hiện với số lượng lớn và được khẳng định có nguồn gốc từ Việt Nam, nhưng bấy giờ các nhà KCH vẫn chưa có “căn cước chính xác” của dòng gốm hoa lam này. Tuy nhiên sau khi con tàu chở đồ gốm bị đắm ở vùng biển Cù lao Chàm được phát hiện và khai quật (1996 – 2000), làm xuất lộ hơn 240.000 cổ vật, chủ yếu là đồ gốm hoa lam của lò Chu Đậu (Mỹ Xá, Hải Dương), thì các nhà KCH đã đối chiếu đồ gốm thu được từ con tàu này với những đồ gốm hoa lam khai quật ở Đông Nam Á từ năm 1990 trở về trước và nhận ra rằng chúng có cùng nguồn gốc: gốm Chu Đậu.

Nhà KCH người Philippines Allison I. Diem trong cuốn sách Chinese and Vietnamese Blue and White Wares Found in the Philippines (do Bookmark Publishing xuất bản ở New York năm 1997) và trong bài nghiên cứu “Những đồ gốm có niên đại thế kỷ XV phát hiện trong con tàu đắm tại đảo Pandana Philippines” in trên tạp chí Khảo cổ học (Số 2/1998) đã viết về những đồ gốm Việt Nam phát hiện tại nhiều di chỉ ở các cảng thị cổ của Philippines và trên con tàu đắm gần đảo Pandana của Philippines. Thông tin và hình ảnh về những đồ gốm này cho thấy đó chính là đồ gốm Chu Đậu, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI.

Tháng 10-2010, tôi sang Okinawa (Nhật Bản) dự hội thảo Nghiên cứu so sánh về tàu thuyền trong thời cận đại ở Lưu Cầu, Việt Nam và Triều Tiên do Đại học Kansai phối hợp với Đại học Ryukyu tổ chức. Sau hội thảo, tôi được các đồng nghiệp Nhật Bản đưa đi thăm một số di tích và danh thắng ở Okinawa, trong đó có thành Nakijin (Nakijin-jo) và thành Shuri (Shuri-jo), là hai di sản văn hóa của Okinawa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Tại thành Nakijin, tôi đến xem một hố khai quật nằm cạnh đền thờ Hỏa thần, là nơi các nhà KCH Nhật Bản phát hiện rất nhiều đồ gốm Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan… và dựng bia ghi dấu tích (ảnh 1). Tôi nhìn thấy trên bia có hình 2 hiện vật gốm Chu Đậu nên đề nghị được xem những hiện vật này. Các đồng nghiệp Nhật Bản đưa tôi vào phòng trưng bày những hiện vật khai quật được ở thành Nakijin, cho tôi xem rất nhiều đồ gốm Chu Đậu vẽ lam và vẽ men tam thái. Một nhà KCH cho biết: “Đồ gốm Chu Đậu, gốm Champa và gốm Gò Sành men ngọc được tìm thấy khá nhiều ở thành Nakijin và thành Shuri. Trong số đó, gốm Chu Đậu có niên đại khá sớm, từ cuối thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XV”. Hiện vật gốm Chu Đậu quan trọng nhất tìm thấy ở đây là chiếc hũ hoa lam vẽ hoa, vân hóa long và hồi văn vảy cá (ảnh 2). Ngoài ra, còn có chiếc liễn vẽ men tam thái, nhiều mảnh vỡ của bát, đĩa và bình tì bà (ảnh 3).

KCH 01

Ảnh 1: Bia ghi dấu các loại hình gốm sứ Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan phát hiện tại di chỉ thành Nakijin, Okinawa

KCH 02b

Ảnh 2: Hũ gốm Chu Đậu phát hiện ở di chỉ thành Nakijin, Okinawa

KCH 03

Ảnh 3: Một số mảnh gốm Chu Đậu phát hiện tại di chỉ thành Nakijin đang lưu giữ tại Trung tâm nghiên cứu KCH Okinawa.

Ở di tích thành Shuri, các nhà KCH thuộc Trung tâm nghiên cứu KCH Okinawa đã phát hiện rất nhiều mảnh gốm Chu Đậu thế kỷ XV, chủ yếu là đồ gia dụng. Theo một báo cáo kết quả nghiên cứu và khai quật khảo cổ học do trung tâm này cung cấp, thì từ năm 1419 đến năm 1570, Ryukyu đã phái 116 thương thuyền đi đến các hải cảng ở Đông Nam Á để giao thương, trong đó có các cảng thị ở Champa và Annam. Những thương thuyền của Ryukyu đã mua nhiều đồ gốm đưa về đảo quốc này để phục vụ nhu cầu của vương triều Sho đang cai trị Ryukyu. Vì thời kỳ này người Ryukyu, cũng như người Nhật, chưa biết chế tác gốm tráng men nên họ rất chuộng đồ gốm tráng men của lò Chu Đậu. Đó là lý do tại sao trong các phế tích cung điện của vương triều Sho có rất nhiều đồ gốm Chu Đậu hoa lam và gốm men tam thái rất tinh xảo.

Năm 2013, tôi trở lại Nhật Bản 3 lần để thực hiện đề tài nghiên cứu Quan hệ giữa Nhật Bản và miền Trung Việt Nam từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII và tham gia cùng đoàn làm phim của Đài Truyền hình TPHCM thực hiện một số cảnh quay ở Nhật Bản cho bộ phim tài liệu Biển đảo Việt Nam – Nguồn cội tự bao đời. Trong 3 chuyến đi này, tôi có đi tới những di chỉ và trung tâm nghiên cứu KCH ở các thành phố: Sakai (phủ Osaka), Naha (tỉnh Okinawa), Hakata và Dazaifu (tỉnh Fukuoka) và Nagasaki (tỉnh Nagasaki)… để tìm hiểu các di vật khảo cổ có liên quan đến mối quan hệ giao lưu giữa Nhật Bản với miền Trung Việt Nam. Tại những nơi này, tôi lại bắt gặp nhiều đồ gốm được các nhà KCH Nhật Bản khai quật tại những phế tích thành lũy và cảng thị ven biển của Nhật Bản từ nhiều năm trước, gồm: gốm Champa, gốm Phước Tích (Thừa Thiên Huế), gốm Thanh Hà (Quảng Nam), gốm Gò Sành (Bình Định), gốm Chu Đậu (Hải Dương), gốm Thăng Long… Riêng đồ gốm Chu Đậu được tìm thấy nhiều nhất là ở Sakai (có niên đại vào thế kỷ XVI-XVII), Kyonouchi Utaki và phía bắc đảo Okinawa (thế kỷ XV-XVI), Fukuoka (thế kỷ XVI-XVII)… Đặc biệt, hàng chục hố khai quật trong vùng thương cảng cổ của Nagasaki đã xuất lộ đồ gốm cổ của Việt Nam, nhiều nhất gốm Chu Đậu với các loại hình: bát, đĩa, hũ, lọ tì bà gốm hoa lam và bát trà chân cao gốm men tam thái dùng trong nghi lễ trà đạo.

KCH 04

Sơ đồ mạng lưới hải thương giữa Nhật Bản với Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Nam Á vào các thế kỷ XV-XVIII (Trần Đức Anh Sơn chụp lại từ sách Chu ấn thuyền Nhật Bản)

Tại hội thảo Quan hệ Việt – Nhật: Lịch sử và triển vọng. Nhìn từ miền Trung Việt Nam, tổ chức tại Đại học Đà Nẵng (tháng 11-2013), TS. Nishino Noriko đã trình bày tham luận “Lịch sử giao thương Việt Nam và Nhật Bản. Những phân tích từ đồ gốm Việt Nam giao dịch với Nhật Bản”, giới thiệu kết quả nghiên cứu đồ gốm Việt Nam phát hiện tại các di chỉ khảo cổ ở Nhật Bản, do cô và người chồng quá cố là nhà KCH Nishimura Masanari đã thực hiện trong nhiều năm qua. Theo đó, có hơn 30 địa điểm ở Nhật Bản, chủ yếu ở vùng phía đông nam đảo Honshu, phía đông bắc đảo Kyushu và các đảo nhỏ thuộc quần đảo Okinawa, đã tìm thấy đồ gốm cổ của Việt Nam. Những đồ gốm này có niên đại thuộc từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, trong đó đồ gốm Chu Đậu chiếm tỉ lệ lớn, cả số lượng, phạm vi phân bố và có phổ niên đại trải dài suốt 4 thế kỷ nói trên, nhưng nhiều nhất là đồ gốm thuộc thế kỷ XV và XVI.

Giải thích về sự xuất hiện của các đồ gốm Việt Nam, đặc biệt là đồ gốm Chu Đậu, trong nhiều di chỉ khảo cổ ở phía nam Nhật Bản, các nhà KCH cho rằng đó là kết quả của hoạt động hải thương giữa Nhật Bản với Việt Nam trong các thế kỷ XIV – XVII, khi mà các thương thuyền Nhật Bản mở rộng mạng lưới buôn bán tới các nước Đông Nam Á. Việt Nam lúc đó có một hệ thống cảng thị ven biển, trải dài từ miền Bắc tới miền Trung, thuận lợi cho thuyền buôn Nhật Bản tới giao thương (ảnh 4) và đồ gốm Việt Nam là mặt hàng được người Nhật mua nhiều nhất để bù lại cho việc thiếu hụt đồ sứ Trung Hoa do chính sách “hải cấm” của triều Minh (kéo dài từ năm 1371 đến năm 1567).

KCH 05

Ảnh 5: Một số mảnh gốm Chu Đậu phát hiện tại Nagasaki đang lưu giữ tại Trung tâm nghiên cứu KCH Nagasaki.

Một học giả Nhật Bản khác là GS. Hasebe Gakuji cho rằng do “kỹ thuật sản xuất đồ gốm ở Nhật Bản vào thế kỷ XIV còn kém xa so với kỹ thuật Việt Nam” (Hasebe Gakuji, “Tìm hiểu mối quan hệ Nhật – Việt qua đồ gốm sứ”, Ðô thị cổ Hội An, Nxb KHXH, Hà Nội, 1991, tr.81), nên từ thế kỷ XIV đến đầu thế kỷ XVII, người Nhật đã nhập khẩu nhiều đồ gốm Việt Nam, ngoài nhu cầu sử dụng còn để tìm hiểu, học hỏi kỹ thuật làm gốm của người Việt. Chỉ sau khi xảy ra cuộc chiến tranh Nhật Bản – Triều Tiên vào cuối thế kỷ XVI, nhiều thợ gốm người Triều Tiên bị bắt sang Nhật Bản và đã du nhập kỹ thuật chế tác gốm sứ của Triều Tiên vào vùng Arita (bắc Kyushu) thì kỹ nghệ gốm sứ Nhật Bản mới bắt đầu phát triển. Lúc đó thì đồ gốm Việt Nam mới giảm dần rồi ngưng nhập vào thị trường Nhật Bản.

Như vậy, từ cuối thế kỷ XIV đến cuối đầu thế kỷ XVII, gốm Chu Đậu cùng với những dòng gốm khác của Việt Nam đã có một vị thế quan trọng trong thị trường gốm sứ ở Nhật Bản và ở các nước Đông Nam Á hải đảo đương thời, mà bằng chứng là sự hiện diện của vô số hiện vật gốm Chu Đậu trong các di chỉ khảo cổ học và trong các con tàu đắm được phát hiện ở Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á trong nhiều năm qua.

Tháng 1/2016

T.Đ.A.S.

Bài này đã được đăng trong Di sản văn hóa. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s