NGƯỜI VIỆT ĐẦU THẾ KỶ XX TRONG HỒI KÝ CỦA MỘT VỊ TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG

Nhằm cung cấp thêm một tài liệu về người Việt trong giai đoạn thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, dưới đây là một vài trích đoạn trong quyển “Xứ Đông Dương” để bạn đọc có thể tham khảo thêm góc nhìn khác từ một viên chức cao cấp của Pháp.

Những cuốn sách viết về lịch sử Việt Nam của người Trung Quốc, người Pháp, người Mỹ… xưa nay không ít. Lẽ dĩ nhiên, là sách của người nước ngoài nên cách nhìn bao giờ cũng đối nghịch ít nhiều với quan điểm của chúng ta. Nhưng nếu ta biết “gạn đục khơi trong”, phê phán có chọn lọc thì đó sẽ là một nguồn tài liệu đáng quý, giúp ta nhìn nhận sự việc được khách quan hơn.

Đôi nét về Paul Doumer

paul-doumer-01

Paul Doumer từng giữ chức Toàn quyền Đông Dương từ 1897 đến 1902.

Paul Doumer là một chính khách người Pháp, sinh năm 1857. Ông làm Toàn quyền Đông Dương từ 1897-1902. Cuốn hồi ký XỨ ĐÔNG DƯƠNG là một tài liệu quý viết riêng về hành trình, nhận định và trải nghiệm của ông trong giai đoạn 5 năm ở Đông Dương, mà phần lớn là ở Việt Nam (thời đó gọi là An Nam).

Về con người của Paul Doumer, ông là người có kiến thức nhiều lĩnh vực, là Bộ trưởng tài chính Pháp trước khi sang Đông Dương nhận chức Toàn quyền. Sau này ông còn làm Tổng thống Pháp từ 1931-1932. Quyển XỨ ĐÔNG DƯƠNG ghi lại nhiều nhận định của ông về nhiều mặt: địa lý, kinh tế, hành chính, con người, văn hóa… ở những nơi ông đi qua.

Để phục vụ nước Pháp hết mình, Doumer đã ra sức chấn chỉnh bộ máy quản lý ở các xứ thuộc địa, đồng thời xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng tại Việt Nam, đáng chú ý như: cầu Doumer (sau đổi tên thành cầu Long Biên) – được coi là một kỳ quan của Đông Dương thời ấy, cầu Thành Thái (tức cầu Tràng Tiền) bắc qua sông Hương ở Huế và cầu Bình Lợi bắc qua sông Sài Gòn.

Ông cũng chính là người đã ủng hộ và hậu thuẫn công việc nghiên cứu của Yersin, đồng ý xây dựng thành phố Đà Lạt và đưa cây cao su vào trồng. Dưới thời cai trị của Paul Doumer, Hà Nội là thành phố châu Á đầu tiên có điện.

Paul Doumer hành động hoàn toàn vì lợi ích của nước Pháp. Nhưng ông là một nhà kinh tế có tài và có tầm nhìn. Chính do vậy, người Pháp có lợi nhưng xứ thuộc địa cũng được hiện đại hóa, Tây phương hóa.

MỘT SỐ TRÍCH ĐOẠN TRONG XỨ ĐÔNG DƯƠNG NÓI VỀ NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN GIAO THỜI GIỮA THẾ KỶ XIX VÀ XX

paul-doumer-02

Xin lưu ý rằng, vì là trích dẫn, nên bài viết chịu ảnh hưởng một phần bởi tính chủ quan của người chọn, không thể mang tính bao quát như trong toàn bộ hồi ký. Các đoạn văn được trích dẫn toàn vẹn, chứ không cắt nhỏ, để đảm bảo tốt nhất giữ nguyên ý của tác giả.

* Nói về người Việt

Người An Nam chắc chắn là tộc người ưu trội so với các dân tộc xung quanh. Người Cao Miên, Ai Lao và Xiêm La đều không thể chống lại được họ. Không một dân tộc nào trong Đế quốc các xứ Ấn Độ có những phẩm chất như họ. Phải tới tận Nhật Bản mới có tộc người có phẩm chất của người An Nam và giống như người An Nam. Người An Nam và người Nhật Bản chắc chắn có mối quan hệ thân tộc từ xa xưa. Cả hai đều thông minh, cần cù và dũng cảm. Người lính An Nam là một người lính giỏi, có kỷ luật và dũng cảm. Họ cũng là những người lao động mẫu mực, những nông phu giỏi việc đồng áng, những người thợ lành nghề, những nghệ nhân khéo léo và thông minh. So với các dân tộc khác ở châu Á, trên tư cách người thợ và người lính, người An Nam vẫn xếp cao hơn một bậc. Vả chăng, đó là một quy luật chung mà tôi đã kiểm chứng trên khoảng 20 chủng tộc của nhân loại, và tôi cũng thấy rất đúng ở châu Âu: những người dũng cảm trong lao động cũng là những người dũng cảm trong chiến tranh; nói khác đi, can đảm là một tính cách thống nhất. Nếu người nào can đảm trước sự mệt mỏi, người đó sẽ can đảm trước nguy hiểm và trước cái chết.

* Về thiên nhiên Nam Kỳ

Lớp đất trẻ, tương đối nông của Nam Kỳ đặc biệt thuận lợi cho việc trồng cấy. Rất dễ canh tác trên đất đó, và đất đặc biệt phì nhiêu. Thời vụ diễn ra rất đều đặn. Thu hoạch hằng năm, chủ yếu là lúa, có biến đổi ít nhiều do những nguyên nhân không đáng kể; sản lượng năm này có thể cao hơn hoặc thấp hơn năm khác về số lượng hoặc về chất lượng nhưng ít nhất cũng luôn luôn được đảm bảo. Sản lượng thu hoạch đó dao động quanh một mức trung bình cao và không bao giờ xuống thấp hơn mức tối thiểu, vẫn còn cao hơn nhiều mức tiêu thụ của dân Nam Kỳ. Gạo bán ra nước ngoài, tức xuất khẩu, trong những năm tệ nhất không bao giờ dưới 700.000 tấn. Gạo xuất khẩu có thể đạt đến một triệu tấn, tính ra thành tiền từ khoảng 80 đến 100 triệu phờ-răng. Hồ tiêu xuất khẩu cũng là một nguồn tài nguyên giá trị.

Gạo là nguồn tài nguyên to lớn có thể thu được không mấy khó khăn; mỗi năm nông dân ở đây chỉ làm một vụ, và công việc đồng áng chỉ tập trung trong ba hoặc bốn tháng. Cả đến vận tải cũng được thực hiện trong những điều kiện dễ dàng và cực rẻ.

Đất Nam Kỳ chằng chịt hàng nghìn con sông lớn nhỏ, kênh, rạch chạy theo mọi hướng. Nam Kỳ là nơi bằng phẳng nên thủy triều ảnh hưởng như nhau tới tất cả các tuyến đường thủy. Như thế mỗi ngày hoạt động của triều lên và triều xuống làm cho các dòng chảy cứ sáu tiếng chảy theo chiều này và sáu tiếng chảy theo chiều ngược lại. Người An Nam lợi dụng điều đó để vận tải hàng hóa mà không mất công mất sức gì nhiều. Ghe xuồng của họ xuôi dòng với sự trợ lực của buồm hoặc mái chèo vừa đủ để có thể lái được chúng. Khi thủy triều đổi hướng mà chưa tới được điểm đến thì họ bỏ neo hoặc buộc những chiếc tam bản vào bờ, bình tĩnh chờ thủy triều đưa dòng nước thuận đến, và cứ như thế cho cả chuyến đi lẫn chuyến về. Vận động thủy triều cung cấp lực miễn phí cho ngành giao thông đường thủy. Có lẽ không có quốc gia nào trên thế giới mà cư dân lại được thiên nhiên ưu đãi như Nam Kỳ.

* Về thành phố Sài Gòn

Ở Sài Gòn cũng có người Hoa, và nhiều là đằng khác, buôn bán to nhỏ đủ loại. Bên cạnh các cửa hiệu Pháp giống như các cửa hiệu ở tỉnh lẻ bên Pháp, tôi thấy các cửa hiệu Trung Hoa khiêm tốn hơn nhưng năng động hơn. Tất cả mọi thứ có trong cửa hiệu của thương nhân châu Âu và cả những thứ khác nữa đều có bán tại cửa hiệu của người Hoa; nơi này sản xuất thứ gì thì nơi khác cũng sản xuất thứ đó. Đây là một cuộc cạnh tranh có lợi cho người tiêu dùng. Đối với các mặt hàng rẻ tiền, đối với các công việc đơn giản, sự cạnh tranh không còn nữa vì chỉ còn lại người Hoa. Khi ta muốn có những bộ quần áo lịch sự, một chiếc đầm đi dạo hoặc ăn tối, một bộ smoking mà không cần đặt từ Pháp sang thì thay vì tìm cô thợ may người Pháp, ta cứ đặt người Hoa ở đây may những chiếc váy nhẹ, những bộ quần áo bằng vải lanh. Các dịch vụ giặt, là, mạng vá cũng là nghề của họ. Họ là những thợ khéo léo và quý hóa không từ chối một yêu cầu nào. Họ chịu làm mọi việc. Người An Nam ở Nam Kỳ không tranh việc với họ. Nam Kỳ quá giàu có, cuộc sống quá dễ dàng nên chỉ gắng sức tí chút là người ta đã tìm được việc. Người ta thấy chỉ có sự gia tăng dân số của người An Nam có thể dẫn tới việc dòng người đổ vào thành phố và đẩy lùi người Hoa. Nhưng cho đến nay, sự gia tăng đất canh tác thậm chí còn nhanh hơn sự gia tăng dân số nên hiện tượng trên không thể xảy ra.

paul-doumer-04

Dinh Toàn quyền ở Sài Gòn.

Sài Gòn là một thành phố nhiệt đới xinh đẹp, thành phố duyên dáng nhất vùng Viễn Đông. Một số công trình nghệ thuật ở Sài Gòn rất đẹp; tất cả đều có kích thước lớn; nhà cửa nói chung khá xinh xắn, đường phố rợp bóng cây, tất cả như bị ngập trong một đại dương xanh. Nhìn từ trên cao xuống, từ chòi quan sát trên nóc một con tàu hoặc từ các tháp của nhà thờ, Sài Gòn hiện ra như một công viên rộng lớn, trong đó một vài tòa nhà quá đồ sộ hoặc quá cao vượt lên khỏi những tán cây. Này là Dinh Toàn quyền, các trại lính, bệnh viện, Sở Bưu điện, Dinh Thống đốc, Sở Thuế quan…; các công thự đó không chịu thua những tán cây muốn chiếm lĩnh trời xanh, luôn luôn vươn lên và trải rộng nhờ nhựa sống của thiên nhiên hào phóng.

* Về người Bắc Kỳ

Người An Nam ở Bắc Kỳ cần cù chịu khó, còn hơn cả người Nam Kỳ. Họ vạm vỡ hơn, cường kiện hơn. Khí hậu thì khá khắc nghiệt; họ không được thiên nhiên ban tặng những điều kiện thuận tiện cho sản xuất và vận tải. Bị bó buộc trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, nơi họ sống chen chúc, dân An Nam buộc một vùng đất chật hẹp phải sản sinh ra rất nhiều sản phẩm. Công việc đồng áng làm họ mất hầu hết thời gian trong năm. Những việc vận chuyển giao thông, hộ đê, tạp dịch và những việc vặt thường nhật lấy gần hết toàn bộ thời gian còn lại. Họ làm việc tích cực không ngừng nghỉ.

paul-doumer-05

Cầu Long Biên ngày nay (ảnh: vnphoto.net)

* Về các thợ thủ công

Các thợ thủ công Bắc Kỳ làm việc chăm chỉ và thuần thục. Họ thành công một cách đáng ngưỡng mộ trong các công việc đòi hỏi tỉ mỉ và tinh xảo. Họ có khiếu thẩm mỹ, và một số người trong bọn họ là những nghệ nhân thực sự. Những thợ đúc đồng, thợ kim hoàn, thợ khảm men huyền, thợ thêu, thợ điêu khắc, thợ khảm đã tạo được một tiếng tăm xứng đáng. Họ không phải là những người thợ bắt chước một nền nghệ thuật ngoại quốc. Dẫu vẻ bề ngoài của những sản vật lộ rõ mối quan hệ với những đồ vật Nhật Bản và Trung Hoa, thì chúng vẫn không phải được lấy cảm hứng từ đó; những người thợ đã tạo ra một nghệ thuật An Nam, với các hình mẫu và cách trang trí của chính họ.

[…]

Các thợ thêu trên lụa làm việc với một kỹ thuật không thể sánh được. Về mặt chăm chút và hoàn thiện công việc, đồ thêu ở Bắc Kỳ được làm tinh hơn đồ của Nhật Bản và Trung Hoa. Nhưng vào năm 1897, các bức thêu mang giá trị trang trí còn rất thấp. Đó là những bức thêu cảnh sinh hoạt của người An Nam hoặc các trận chiến huyền thoại, với một đám đông những nhân vật nhỏ xíu, con giống, đồ vật mà ta có thể ngưỡng mộ các chi tiết, nhưng về toàn cảnh chẳng có gì đẹp lẫn dễ coi. Kể từ đó trở đi, các thợ thêu An Nam đã lấy từ hệ thực vật phong phú của mình những nhân tố để tạo thành tác phẩm của họ. Họ đã thành công trong việc đem lại cho những tấm lụa thêu một hiệu ứng trang trí ngang tầm với người Nhật Bản, và họ đã không đánh mất sự ưu trội về tay nghề của họ.

Đồ gỗ gia dụng An Nam do những thợ chạm gõ chế tạo, và chủ yếu gồm ghế tựa, bàn và tủ chè, có đường nét và hoa văn rất đẹp. Các bộ trường kỷ, món đồ trang trí trong những ngôi nhà truyền thống và trong đền chùa, hầu hết đều mang những nét đối xứng hài hòa; các hình chạm khắc trang trí trên đó thì đơn giản và thường rất đẹp. Nhưng sự thành công rực rỡ của người An Nam là nghệ thuật khảm trai trên gỗ. Họ đã khiến cho những bộ tủ chè và những thứ đồ gỗ nhỏ khảm trai như vậy của vùng này trở nên thực sự đáng chú ý và họ đã nổi danh ở vùng Viễn Đông. Những thợ khảm trai Trung Hoa, những người hình như đã truyền nghề của mình cho dân An Nam thì còn lâu mới sánh ngang hàng được với học trò của mình.

* Về giáo dục

Trong các trường làng, người ta dạy các chữ cơ bản. Những quyển sách tập đọc mà họ trao vào tay lũ trẻ thì đúng là những tiểu kiệt tác thực sự, trong đó thể hiện tinh thần đạo đức của Khổng Tử với một ngôn ngữ đơn giản và đẹp, khắc ghi vào trí óc trẻ thơ. Ta chuyển từ quyển thứ nhất, hết sức đơn giản, hết sức cơ bản, dạy cho ta những phép tắc lễ nghĩa đầu tiên, lên đến quyển thứ hai là những vấn đề rộng hơn, sau đó lên quyển ba và cứ tiếp tục như thế. Đa phần các trường làng thấy rằng dạy chừng từ bốn đến năm quyển là đủ. Bọn trẻ học ở đó, cùng với một lượng chữ đủ để viết và trao đổi trong những tình huống đơn giản mà họ gặp nhau, những nguyên tắc đạo đức và những quy định ứng xử sẽ theo họ trong suốt cuộc đời. Đây hiển nhiên là một nền giáo dục chưa hoàn chỉnh; tuy nhiên nó đủ để làm cho một dân tộc cần cù, gắn bó với nhiệm vụ gia đình, hạnh phúc về mọi mặt khi những vấn đề bên ngoài không khiến họ lo lắng ưu phiền.

* Về tre Việt Nam

Người dân Đông Dương dựng nhà bằng tre; mặt khác, kể cả khi một căn nhà được xây bằng gạch thì nó vẫn được bao bọc bởi một lũy tre lớn mà bản thân nó cũng đã chính là một công trình. Bờ rào, những chòi canh để trông coi hoặc để nghỉ chân khi đi săn, những cọc cừ bằng tre để ngăn sông xói mòn đất, những chiếc tời, vó và cần câu, tất cả các loại đồ dùng và dụng cụ đều được làm bằng tre. Khi đi đường, nếu cần dựng tạm lều trại, người An Nam cũng dễ dàng làm được khi có những cây tre ở ngay gần.

Tôi vẫn còn nhớ một ngày nọ ngài Đô đốc Pottier đã vô cùng sửng sốt thán phục khi được cây tre cứu khỏi tình huống khó khăn trên mạn thượng lưu sông Hồng. Tôi và vị Đô đốc tài giỏi này đã gặp nhau tại Lào Cai nơi chúng tôi cùng khánh thành cây cầu mà tôi đã cho xây dựng tại Nậm Thi để phục vụ cho tuyến đường sắt và đường bộ nối với Vân Nam. Lúc đó khoảng tháng Một năm 1902. Được tháp tùng bởi hai sĩ quan phụ tá và một đội lính khố đỏ hộ tống, ngài Đô đốc lúc đi xe kéo, lúc đi kiệu trên con đường bộ bên sông hoặc tuyến đường sắt đang được xây dựng. Không phải cả 200 hay 250 cầu đường sắt đều đã thi công xong, nên việc đi lại vẫn khó khăn và chậm chạp.

paul-doumer-06

Đô đốc Pottier (ảnh trích từ sách)

Lịch trình đã được sắp xếp sao cho đoàn có thể ăn trưa, hoặc ít nhất là ăn tối và nghỉ ngơi tại một ngôi làng, hoặc trong một đồn bốt. Buổi chiều hôm ấy, ngài Đô đốc đã thấm mệt và chỉ có thể tiếp tục hành trình khi đã khá muộn và không theo đúng lịch trình đã lập. Màn đêm dần buông trong khi cả đoàn vẫn còn cách khá xa bốt nghỉ, nơi đã chuẩn bị sẵn đồ ăn và chăn. Họ buộc phải tạm nghỉ, nơi dừng chân là vùng đất nguy hiểm có hổ rình rập nên họ không đi tiếp được khi mặt trời đã lặn. Làm sao có thể ăn uống và nghỉ ngơi ở một nơi hoang dã như thế? Đoàn hộ tống có một ít gạo dự trữ của lính khố đỏ và vài hộp thức ăn Âu, nhưng chẳng có đồ dùng nào khả dĩ để nấu ăn, và cũng không có gì để che chắn hay để tự vệ đề phòng sự tấn công của dã thú. Thật may là có những rặng tre mọc hai bên bờ sông Hồng, và những người lính khố đỏ thì không rời tay khỏi những thanh mã tấu, một loại kiếm nhỏ hay dao dài bản địa. Với những thứ đó, ngài Đô đốc có thể yên tâm: ông sẽ có một chỗ nghỉ ngơi và ăn uống.

Không để mất thời gian, những người lính bắt tay ngay vào công việc. Chỉ trong vài phút, một hàng rào bằng tre dài và chắc chắn đã được dựng lên tạo thành một khu trại đủ rộng. Họ đã giải quyết được vấn đề dã thú. Sau đó ba chiếc lều được dựng, một cho ngài Đô đốc, một cho những sĩ quan, cái còn lại cho binh lính hộ tống. Ngài Đô đốc và những viên sĩ quan trong hoàn cảnh này đã có thể nghỉ ngơi thoải mái với những chiếc chõng tre, cao khoảng 40 đến 60 xăng-ti-mét và đàn hồi như một tấm nệm lò xo cùng những chiếc gối tiện dụng. Một ống tre lớn còn nguyên cả mắt, vốn chứa nước rất tốt, được khéo léo cắt từng khúc thành một cái gáo, cũng có thể coi là bát, xô hay chậu. Nhờ đó, trong khi những căn lều lán được dựng lên và hoàn tất, những người lính đi kiếm và lấy nước vào những gáo tre, nhóm lửa và chuẩn bị bữa tối. Gạo và đồ hộp được nấu trong những chiếc nồi kỳ lạ làm từ những cây tre. Vậy là chẳng khó gì để có được một bữa ăn, nhưng khi Đô đốc Pottier nhìn những thanh mã tấu trong tay của những người lính đẽo gọt ra những chiếc đĩa, thìa và cả những chiếc dĩa bằng tre cũng có ba răng y như dĩa thật, ông thấy đó quả là một sự khéo léo phi thường! Rất lâu sau khi trở về Pháp, ngài Đô đốc vẫn kể lại câu chuyện và rất vui vẻ khoe một chiếc chăn kỳ diệu, vốn được làm ra cấp thời cũng như căn lều và bữa tối của ông trong một thung lũng ở thượng lưu sông Hồng. Ông ghi nhớ những kỷ niệm về một buổi tối mà ông bất ngờ trải qua như thế cũng như về sự khéo tay đến kinh ngạc của những người An Nam.

* Về tệ nạn trong hệ thống quan lại và thái độ của Pháp

Triều đình An Nam vẫn hoạt động tốt gần giống với tình trạng trước khi bị nước Pháp chinh phục. Hệ thống quan chế tại các tỉnh thành vẫn giữ nguyên; việc cai trị cũng vậy. Các quan lại sống tại những dinh thự đẹp đẽ được xây xựng theo kiểu hệ thống Vauban; họ cai trị, hành pháp và thu thuế dưới danh nghĩa triều đình. Quyền cai trị, hành pháp và thu thuế là những nguồn lợi trực tiếp của họ, là hối lộ biếu xén và mọi loại bổng lộc khác. Đương sự của các vụ kiện, những người nộp thuế và những kẻ nô dịch sẽ dâng lên tất cả những gì họ có; những viên quan to hay nhỏ đều cố gắng bòn rút tối đa từ dân, và phần được đóng vào quốc khố chỉ là phần còn lại mà bọn họ không thể ăn chặn được.

Đó là chế độ quân chủ quan liêu cũ trong đó các quan lại lạm dụng quyền hành trên mọi mặt, mà không có dáng vẻ trung thực tự tại như những quan lại xưa kia. Những khiếm khuyết và những tệ nạn trong hệ thống vẫn tiếp tục hoành hành. Sự kiểm soát từ cấp cao nhằm ngăn chặn tệ nạn này bùng phát bằng hình phạt nếu cần thiết, rốt cuộc đã bị vô hiệu hóa và tê liệt. Đây không phải là một cuộc khủng hoảng hay một vấn nạn mà chính quyền Pháp cần quan tâm, cũng không phải là cái cớ để chúng ta can thiệp. Và như thế, vị Khâm sứ của chúng ta tại Huế hài lòng với việc giám sát Đức vua và triều đình, mà không cần hợp tác với họ; và ngay cả các Công sứ Pháp của chúng ta tại sáu hoặc tám tỉnh lớn vốn có nhiệm vụ đảm bảo việc duy trì trật tự mà không cần hợp tác với quan lại cũng không có nhiệm vụ kiểm soát các hành vi của quan lại. Chúng ta chỉ giới hạn ở mức bảo hộ cơ bản và đã không quan tâm đến việc cai trị cũng như tác động của nó lên sự phát triển kinh tế.

Có thể cho đến lúc đó chúng ta chưa thể làm tốt hơn và tiến xa hơn. Nhưng dù sao đi nữa thì nhất định không thể để tình hình này kéo dài hơn nữa. Cho dù là vì lợi ích của nước Pháp hay là vì lợi ích của người dân An Nam, thì đều cần phải áp dụng những phương thức quản lý và những chính sách kinh tế của nền văn minh châu Âu vào đất nước này. Nhiệm vụ này đặc biệt thú vị, tất cả cần phải được thực hiện từ đầu và chúng ta có thời gian, chúng ta có thể phát triển một kế hoạch toàn diện và tiến hành nó một cách nhịp nhàng, có phương pháp, không hấp tấp, không phô trương.

Trích từ XỨ ĐÔNG DƯƠNG

Dịch bởi: Lưu Đình Tuân, Hiệu Constant, Lê Đình Chi, Hoàng Long, Vũ Thúy

Nguyễn Thừa Hỷ hiệu đính

Nguồn: http://trithucvn.net/van-hoa/nguoi-viet-dau-ki-20-trong-hoi-ky-cua-mot-vi-toan-quyen-dong-duong.html?utm_content=buffere06cd&utm_medium=social&utm_source=facebook.com&utm_campaign=buffer

 

Đăng tải tại Di sản văn hóa, Điểm sách | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MÔI TRƯỜNG, DÒNG CHẢY XÃ HỘI VÀ THAY ĐỔI VĂN HÓA: SỰ HÌNH THÀNH CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM THÔNG QUA CẢNG BIỂN TRONG NHỮNG NĂM 1650 – 1750

Charles Wheeler

Phần 2

3. Xây chùa

Sự phục hưng của Thiền tông tương ứng với sự lớn mạnh của mạng lưới thương mại lãnh địa lâu đời ở hải ngoại của các thương gia người Hoa trong thế kỷ XVI và sự thích ứng của họ với những thay đổi bởi bối cảnh kinh tế chính trị của nền thương mại đường biển sau khi họ Trịnh (ở Trung Hoa – người dịch) bị đánh bại vào năm 1683. Khi số lượng các thuộc địa tăng lên, những biến thể địa phương như cộng đồng Minh Hương cũng tăng lên, nhờ vào các thể chế thích nghi và các chiến lược mềm dẻo, bắt nguồn từ một khu vực văn hóa đã tồn tại ở Trung Hoa, phát triển cùng với nó và tổ chức nó lại. Điều này giúp duy trì sự gắn kết xã hội và điều phối thương mại giữa các thuộc địa riêng lẻ của người Hoa ở nước ngoài và sự đáp ứng với môi trường địa phương, nhờ vào vốn từ vựng đặc biệt về văn hóa và bộ khung thiết chế mềm dẻo, chịu đựng được rất nhiều thay đổi của thế kỷ XVII.44 Cấu trúc xã hội này chịu được tính toàn vẹn xuyên đại dương nhờ vào một mạng lưới về thương mại và hàng hải, từ Melaka đến Nagasaki, đã tiếp tục tạo nên nó. Thông qua những mạng lưới này, các thủy thủ, thương gia, di dân và một số lớn các tác nhân xã hội khác được luân chuyển. Các nhà sư cũng vậy. Việc di chuyển theo khuôn mẫu của họ đã truyền năng lượng cho các liên kết mềm dẻo, bền vững của bản sắc được chia sẻ, gắn kết cộng đồng xuyên suốt những khoảng cách rộng lớn, nhưng cho phép họ có đủ sự linh hoạt để bảo đảm sự thành công ở từng địa phương. Nhờ vào những cơ chế không chính thống như vậy mà nền thương mại Trung Hoa, từ các vùng thuộc địa của người Hoa và cả những cộng đồng Minh Hương hải ngoại, đã tồn tại được qua cuộc chuyển giao quyền lực cho nhà Thanh sau khi nhà Thanh đánh bại đế chế họ Trịnh vào năm 1683. Tuy nhiên, sự tồn tại và sự thích nghi này mang ý nghĩa là một thay đổi tất yếu.

Các ngôi chùa Phật giáo đã hỗ trợ cho các thương gia bằng cách thực hiện chức năng chính yếu trong việc đáp ứng với những biến đổi của môi trường khi gắn kết các xã hội ở nước ngoài xa xôi với nhau. Chức năng của ngôi chùa như là “một nền tảng chung của tôn giáo và nghi lễ” đã được thấy rõ.45 Chùa chiền cũng giữ những chức năng xã hội và kinh tế đa dạng. Đây là trung tâm cho thành công về mặt tổ chức của những mạng lưới thương mại và buôn lậu thương mại, bất chấp lệnh cấm của triều đình và là nguồn căn của hội nhập xã hội cũng như tính liên tục về văn hóa. Trong các địa hạt thương mại ở Đàng Trong, chẳng hạn như trong cộng đồng thương gia Phúc Kiến, ngôi chùa đóng vai trò là nơi gặp gỡ của các thương nhân, những người thường xây dựng những ngôi chùa ở trong hoặc gần sát với các thiền viện, để có thể quan tâm đến các nhà sư sống tại đó. Những ngôi chùa lưu giữ những thỏa ước quy định về các luật lệ trong thương mại và trong xã hội, tài sản và lợi tức thông lệ, đồng thời giữ vai trò là ngân khố của làng xã và là kho lưu trữ cho chính quyền sở tại trong lĩnh vực thương mại. Đôi khi chùa chiền cũng có vai trò phúc lợi xã hội quan trọng, chăm sóc cho người nghèo và người bệnh tật. Hơn nữa, chùa chiền và khuôn viên xung quanh, khi đã có tường bao, sẽ đánh dấu cả không gian thiêng liêng và quyền sở hữu tài sản. Với tất cả điều đó, ngôi chùa đã tạo nên “công cụ về thể chế để tạo ra đáp ứng đa chiều” làm giảm thiểu sự hỗn loạn và tối đa hóa kết quả được mong đợi và sự ổn định.46 Điều này được thấy rõ trong trường hợp của Hội An.

Trên những khu phố người Hoa ở các thuộc địa thương mại của Trung Hoa ở nước ngoài, các thương nhân đã bảo trợ cho chùa chiền và các thiền viện Phật giáo. Thương nhân có lí do chính đáng để xây dựng đền và thu nạp tăng ni ở nước ngoài. Các nhà sư Phật giáo đem lại một quyền lực tín ngưỡng, giúp hợp pháp hóa và kỷ luật hóa các chuẩn mực xã hội, đạo đức kinh doanh và trật tự chính trị trong cộng đồng hải ngoại và giữa các thuộc địa về thương mại riêng lẻ với cộng đồng dân cư bản địa. Quyền lực giao thoa văn hóa của Phật giáo và “xung lực nội tại” cũng đã tạo cơ hội cho các thương gia xây dựng một quan hệ xuyên văn hóa bền vững. Trong một môi trường mà cư dân khó hoặc không thể biết trước, chùa chiền và các nhà sư cũng có thể dùng quyền uy và hệ tư tưởng của họ để bảo vệ những vị thần phi Phật giáo hay các tập quán của người Hoa mà cộng đồng cư dân bản địa đó có thể không tán đồng.47 Trong một môi trường thuận lợi như Đàng Trong, họ có thể được sử dụng để nâng cao vị thế chính trị của cộng đồng với chính quyền sở tại và danh sĩ địa phương. Họ có thể đóng vai trò như những nhà ngoại giao, như họ từng làm từ thời “Con đường tơ lụa”. Họ thậm chí có thể giúp cộng đồng chấp nhận thờ phụng các vị thần mới khi hoàn cảnh đòi hỏi. Trong trường hợp này, các ngôi chùa Phật giáo đã giúp phát triển sự toàn vẹn xã hội ở trong các cộng đồng riêng lẻ, trong các thuộc địa ở hải ngoại xa xôi và giữa các khu vực thương mại tách biệt với cộng đồng cư dân nơi họ sống.

Dĩ nhiên, những chính thể hải ngoại chắc chắn có ảnh hưởng đến cộng đồng cư dân bản địa. Phản ứng về chính thể đáng kể nhất ảnh hưởng đến Đàng Trong đã diễn ra vào cuối những năm 1670, khi Dương Ngạn Địch và hạm đội của ông ta gồm những người trung thành với triều Minh di cư từ Long Môn đi đến Đàng Trong, và khi Thiền sư Nguyên Thiều định cư ở Quy Nhơn. Tình hình này kết thúc vào khoảng năm 1700, khi người Long Môn tị nạn cuối cùng là Mạc Cửu ở Hà Tiên đã trở thành một công dân của chúa Nguyễn, chỉ 4 năm sau khi Đại Sán, một Thiền sư Trung Hoa quan trọng khác, đến thăm Đàng Trong. Nó xảy ra như một hệ quả của sự thay đổi từ Trung Hoa đối với hải ngoại, khi chính quyền nhà Thanh đánh bại lực lượng hải quân đối địch, tái sáp nhập hải quân Trung Hoa vào đế chế Đại Thanh và cải tổ chính sách thương mại đường biển của Trung Hoa.

Năm 1684, Đại Chân, một người được triều đình nhà Thanh giao cho việc cải cách Quảng Đông, đã dẫn đầu một nhóm quan lại đi khảo sát đồng bằng Châu Giang. Trong chuyến đi, họ đã dừng lại ở một túp lều nhìn ra mặt nước. Những người khác tụ tập lại, bao gồm một viên quan từ Đàng Ngoài. Ở đó, họ thực hiện một loạt các nghi thức để hiến tế cho nữ thần biển Ma Tổ, cảm tạ người đã giúp đỡ trong chiến thắng của họ trước quân Trịnh và sức kháng cự của hải quân Trịnh. Ở Đài Loan, các quan lại đã giới thiệu Ma Tổ, cùng với Quan Âm và Quan Công ngay từ đầu trong nỗ lực kiên trì để “bình định người bản địa” và mang hòn đảo hoàn toàn nhập vào đế chế.48 Những vị thần  đóng góp nhiều cho sự tái hòa nhập hơn như là cơ hội để tiến hành nghi lễ, tuy rằng điều này cũng quan trọng. Là một phần trong kế hoạch phục hồi lại các tuyến đường giao thông cấp tỉnh, các quan chức triều Thanh như Li Shizhen đã yêu cầu xây dựng lại miếu Quan Công và chùa Quan Âm, và “tuyển dụng các nhà sư để giữ gìn chùa”.49

Như thể là đồng thời, những người trung thành với nhà Minh bị đánh bại, những thương nhân người Hoa xa xứ, triều đình Nguyễn và những danh sĩ Việt Nam khác đã cùng tiến hành kế hoạch tôn giáo mới. Phần lớn họ đều xây chùa. Cùng lúc, họ tìm kiếm các tăng lữ từ Trung Hoa để tạo dựng và duy trì những ngôi chùa, từ những tự viện có kinh nghiệm lâu năm về xây dựng chùa và truyền giáo ở nước ngoài. Sứ mệnh của họ đã bắt đầu từ vài thập kỷ trước, từ năm 1654, khi sự kháng cự trên biển của những người trung thành với nhà Minh chỉ vừa bắt đầu. Ngay sau khi đến nơi, những nhà truyền giáo này đã bắt đầu một cuộc vận động cho sự biến thể của Thiền tông ở Nhật Bản. Điều này không chỉ làm thay đổi Phật giáo Nhật Bản mà còn sáng tạo ra một số thay đổi về tư duy quan trọng nhất của lịch sử đất nước. Một số thay đổi này không thật sự liên quan đến Phật giáo. Khi sự kháng cự chống lại nhà Thanh bị thất bại 30 năm sau đó, tiến trình lại lập lại ở Đàng Trong, bắt đầu với Nguyên Thiều. Họ cũng mở ra những xu hướng trí tuệ mới quan trọng. Ảnh hưởng của các nhà sư này vượt ra ngoài những khu phố người Hoa, và đi sâu hơn vào địa hạt đời sống trí tuệ. Các nhà sư đã giúp những thương gia Đàng Trong thích nghi với trật tự mới của một thế giới lớn hơn trên biển, nhưng về mặt tiến trình, là sự vận động thay đổi giúp biến chuyển vương quốc của họ Nguyễn.

3.1. Xây chùa Obaku (Hoàng Bích) ở Nagasaki

Cũng như trong lĩnh vực thương mại, Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong sự thay đổi tôn giáo của Đàng Trong, giống như sự lớn mạnh của chùa Obaku. Việc xây dựng chùa chiền Phật giáo ở Nagasaki bắt đầu ngay sau khi chính quyền Nhật Bản cấp châu ấn trạng – giấy phép hoạt động thương mại vào những năm 1590. Năm 1602, những thương gia người Hoa đầu tiên nhận được giấy phép để mua đất xây khu phố người Hoa ở Nagasaki. Nhưng việc xây dựng không được bắt đầu mãi cho đến 20 năm sau khi Chân Viên, một nhà sư Giang Tô đã một thời từng là một thương gia giàu có, lập lên ngôi chùa đầu tiên trong khu vực này.50 Các thương gia xây thêm hai ngôi chùa nữa vào năm 1628 và 1629.51 Cộng đồng thương gia đã lựa chọn các nhà sư từ tỉnh Giang Tô và Phúc Kiến ở Trung Hoa đến trông nom việc thiết kế, xây dựng, chăm sóc những ngôi chùa và quản lý các thiền viện sau khi hoàn thành.52 Cùng với việc xây chùa Phật giáo, các thương gia Trung Hoa ở Nagasaki và các nhà sư cư ngụ ở đây đã cùng nhau góp sức xây dựng 3 ngôi miếu: miếu thứ nhất thờ vị trung thần Quan Công, miếu thứ hai thờ Quan Âm bồ tát, và miếu thứ ba thờ nữ thần biển Ma Tổ, còn được biết đến với tên gọi Thiên Hậu thánh mẫu. Những ngôi miếu này lớn lên thành các trung tâm chính thống của cộng đồng thương mại Hoa kiều ở các khu phố Tàu tại Nagasaki trong suốt thế kỷ XVII.

Tầm quan trọng được đổi mới của dòng truyền thừa Phật pháp Thiền tông nam Trung Hoa thế kỷ XVII đã khuyến khích các nhà bảo trợ của những ngôi chùa tìm kiếm các sư phụ. Những người này có thể chứng minh một cách khách quan mối ràng buộc về truyền thừa với các nhà sư nổi tiếng ở Trung Hoa.53 Một trong những nhà sư nổi tiếng nhất là Ẩn Nguyên Long Kì, được biết đến ở Nhật dưới cái tên Ingen Ryuki. Ông là một môn đồ của thiền viện Hoàng Bá Lâm Tế của Nguyên Thiều. Người Nhật tôn kính vị Thiền sư Trung Hoa này vì ông là người sáng lập ra dòng Thiền Obaku – tên tiếng Nhật của tông phái Nguyên Thiều (Hoàng Bích). Năm 1654, ông và 30 đệ tử của mình lên một thuyền buôn đến Nagasaki. Các thương gia bảo trợ của chùa Kofuku đã mời các vị này đến. Dù hy vọng là sẽ trở về Trung Quốc sau ba năm ở Nhật Bản, nhưng sau cùng Ẩn Nguyên đã lựa chọn việc ở lại nước Nhật. Đến năm 1661, nhà sư đã yêu cầu sự hỗ trợ để ông thiết lập một thiền viện mới, gọi là Mampuku-ji, ở ngoài khu vực thương mại trên đất Nhật. Sự hỗ trợ không đến từ những người Hoa ở Nagasaki mà từ các nhà tài trợ người Nhật, bao gồm cả tướng quân Tokugawa, người đã cấp ngân quỹ và cho cả đất đai. Một vài trong số những đệ tử người Hoa của ông đã ở lại Nhật Bản với ông, trong khi một vài người khác lại tiếp tục các chuyến đi. Nhiều người khác theo sự dẫn dắt của Ẩn Nguyên, di cư tới Nhật Bản để truyền giáo. Mộc Am Tính Thao (Mokuan Shoto) và Tức Phi Như (Sokuhi Nyoitsu) đến Nagasaki với sư phụ của họ vào năm 1654. Họ rời khỏi các ngôi chùa ở Nagasaki nơi tu hành ban đầu để đảm đương chức vụ ở các thiền viện khác trên nước Nhật. Ở đó, họ đã lôi kéo những người Nhật theo đạo và chiêu nạp những chú tiểu người Nhật. Cùng lúc đó, Ẩn Nguyên bắt đầu chấp nhận các đệ tử người Nhật như Tetsugen, một trong những nhà sư của dòng Thiền Obaku có nhiều ảnh hưởng nhất. Thiền viện của Ẩn Nguyên lớn lên nhanh chóng. Khi quyền trụ trì Manpuku-ji được chuyển từ người Hoa sang người Nhật vào năm 1736, thiền viện này đã tự thiết lập vị trí vững chắc trong xã hội Nhật Bản. Ngày nay nó là một trong những môn phái Thiền lớn nhất của Nhật Bản.54

3.2. Xây chùa ở Hội An

Việc xây chùa hầu như không phải là mới đối với các thương gia người Hoa và những người Minh Hương ở Đàng Trong. Một số lớn các vị thần khác được thờ phụng trong khu phố Tàu, trong cộng đồng xung quanh, ở vùng đất nội địa và các đảo ven biển để phục vụ cho thương gia và thủy thủ người Hoa. Khám thờ những vị thần Trung Hoa và bản địa được đặt trong nhà, dưới bóng cây hay thậm chí ở Chùa Cầu.55 Tuy nhiên, ba vị thần từ nơi khác đến lại trở nên nổi bật hơn các vị thần khác ở cảng thị này của Đàng Trong.

Các học giả nhấn mạnh sự tương đồng của ba vị thần linh đã tạo nên một phần của xã hội thương gia người Hoa ở Nagasaki và ở các thuộc địa thương mại người Hoa khác ở nước ngoài. Viết về chuyến đi Hội An vào mùa đông năm 1695 – 1696, Đại Sán đã chỉ ra hai ngôi chùa có vị trí ngay giữa chợ trung tâm và cầu cảng. Người dân địa phương gọi ngôi chùa thứ nhất là Chùa Ông, để tưởng nhớ vị trung thần Quan Công. Những thương gia người Hoa đã xây dựng ngôi chùa này vào năm 1653, thay cho một công trình cũ hơn gần đó, đã chuyển đổi thành thiền viện. Ngôi chùa thứ hai, được dân địa phương gọi là Chùa Bà, để tỏ lòng tôn kính đức Phật A Di Đà nhưng trong án thờ lại có phối thời Quan Âm bồ tát. Đại Sán miêu tả ngôi chùa này nằm ở một nơi cách xa thành phố hiện nay.56 Người dân địa phương cầu nguyện Quan Âm như một vị thần biển trong nhiều thế kỷ. Bà nhận được sự tôn kính của người Hoa, người Việt, và cả người Nhật trước khi họ rời đi. Vị nữ thần thì đã già, nhưng án thờ và thiền viện thì mới được xây dựng khoảng một thập kỷ trước khi Đại Sán đến đây. Điều tương tự cũng đúng với vị thần thứ ba, nữ thần biển Ma Tổ thánh hậu hay Thiên Hậu thánh mẫu. Thủy thủ và thương nhân người Hoa đã thờ phụng nữ thần này ở Hải Bình cung (từ khi họ xây dựng nó năm 1626, dọc theo Bảo Đê cung, còn có tên là Cẩm Hà cung).57 Tuy nhiên, sự hiện diện của Ma Tổ như là tâm điểm của phường hội thương gia tại Hội An diễn ra vài năm sau đó, sau chuyến đi của Đại Sán đến Đàng Trong.58 Bộ ba vị thần linh thiêng của cộng đồng người Hoa ở hải ngoại khi này vẫn chưa trở thành những biểu trưng vững chắc ở các khu phố Tàu và những người Minh Hương ly khai của Đàng Trong. Tuy nhiên bước sang thế kỷ XVIII, điều này đã được thực hiện nhờ vào nỗ lực của các nhà sư, các thương gia và vương triều Nguyễn.

Các chùa Phật giáo rất quan trọng với các cảng biển ở Đàng Trong, nên số lượng chùa tăng nhanh ở Hội An và vùng phụ cận. Tuy nhiên cũng như các ngôi đền thờ thần, phần lớn chùa được xây vào cuối thế kỷ XVII. Hội An có thể tự hào về các ngôi chùa Phật giáo và các sư tăng người Hoa trong thành phố và vùng nội địa có niên đại từ những ngày đầu của Phật giáo – như Bảo Châu ở phía tây, quần thể đền tháp Champa lớn ở Đồng Dương về phía nam, hay rất nhiều chùa trên núi Ngũ Hành Sơn ở phía bắc. Trở lại Hội An, những thương gia người Hoa của thành phố, dẫn đầu bởi những người Minh Hương, có vẻ như chỉ tài trợ cho một thiền viện vào thời gian giữa thế kỷ XVII là chùa Long Ân, được xây dựng ở trong miếu Quan Công cũ một thời gian trước khi xây Chùa Ông vào năm 1653.59 Một ngôi chùa Nhật Bản khác, gọi là chùa Âm Bổn, có vị trí quan trọng trong cộng đồng người Nhật trước khi bị biến mất một cách khó hiểu.60 Vùng Hội An đã luôn luôn có nhiều đền chùa. Thậm chí còn có nhiều đền chùa hơn nữa sau sự thất bại của những người Minh Hương.

3.3. Chùa Di Đà

Tốc độ xây cất đền chùa ở Hội An tăng nhanh vào thời gian sau khi Nguyên Thiều đến Đàng Trong, vào cuối những năm 1670, với công trình chùa Di Đà và Quảng Yên. Quan trọng nhất trong số này là đền Di Đà, để thờ phụng Đức Phật A Di Đà, vị Phật gần gũi với các thương gia Đàng Trong. Các văn bia ở nơi đây cho biết ngôi chùa có niên đại từ thời nhà Đường; người dân nói chung chấp nhận điều này, dù rằng thiếu căn cứ.61 Thực sự thì những nguồn sử liệu có rất sớm như Ô châu cận lục không ghi chép về một ngôi chùa như vậy ở khu vực Hội An. Ch’en Ching-ho (Trần Kinh Hòa – người dịch) cho rằng cộng đồng dân cư đã xây lại ngôi chùa – một giả thuyết có vẻ thuyết phục, dù vẫn không được ủng hộ.62 Điều đáng tò mò là ngôi chùa có tên Di Đà – cùng tên mà Nguyên Thiều chọn đặt cho ngôi chùa đầu tiên của ông ở Quy Nhơn – vì những người theo tông Hoàng Bích thường sùng bái Phật A Di Đà như là vị thần chủ đạo của họ.63 Điều này củng cố cho ý kiến cho rằng Nguyên Thiều có thể đã là trụ trì đầu tiên của ngôi chùa. Dù ông có đảm nhiệm vị trí này hay không, cộng đồng đã xây dựng ngôi chùa vào một thời điểm nào đó trước năm 1685. Năm đó, một phụ nữ địa phương qua đời. Các văn bia ở địa phương xác định bà là Bà Lanh, một góa phụ của một thương gia giàu có trong cộng đồng Minh Hương. Một thời gian trước khi qua đời, bà đã cúng dường tiền bạc để xây chùa và tặng cả phần đất liền kề đó để duy trì thiền viện.64 Sau đó, có thể những thương gia ở Hội An đã xây dựng (hoặc khôi phục) thiền viện Di Đà trong khoảng thời gian giữa thời điểm Nguyên Thiều hoàn thành ngôi chùa Thập Tháp Di Đà đầu tiên của ông ở Quy Nhơn vào năm 1679 vào thời điểm Bà Lanh qua đời. Tuy nhiên, trong ghi chép của mình, Đại Sán đã cảm tạ góa phụ đã khôi phục ngôi chùa vào mười năm trước khi ông đến đây vào năm 1695 – 1696.65 Dù ý ông nhắc về việc khôi phục sau này, hay là xây dựng từ đầu, thì chùa Di Đà rõ ràng thu hút một số lượng lớn các thương gia bảo trợ cho nó.

Di Đà không phải là ngôi chùa duy nhất nằm sát miếu Quan Công. Chùa Quảng Yên cũng nằm gần đó. Binh lửa đã phá hủy ngôi chùa trong thời kỳ chiến tranh với nhà Tây Sơn, có lẽ là trong trận quyết chiến vào năm 1775. Chỉ còn ít dấu vết về việc này, nên chỉ còn vài người vẫn nhớ đến nó. Các bằng chứng cho thấy các thương gia của cộng đồng Minh Hương có thể đã xây dựng Quảng Yên vào thập niên 1670, do chiếc chuông chùa có niên đại của triều Nam Minh tương ứng với năm 1679.66 Nó không thể được xây muộn hơn mốc đó: hai bia đá riêng biệt đề năm 1680 kỷ niệm hai danh sĩ người Minh Hương đã hiến tặng đủ tiền để mua 100 mẫu đất ủng hộ cho cộng đồng tăng lữ của chùa.67 Vẫn còn nghi vấn về vị thần chính của chùa, dù rằng một trong những bia đá có đề cập đến Đức Phật A Di Đà.68

Không thể xác định được chính xác ngày tháng khi thiền viện Di Đà và Quảng Yên được xây dựng. Tuy vậy, việc xây dựng và việc khôi phục hai tự viện này rõ ràng là một phần quan trọng trong việc xây chùa, như liệt kê trong bảng dưới đây:

Các ngôi chùa được xây dựng hoặc phục hồi ở Đàng Trong, giai đoạn 1670 – 170069

Chùa

Ngày

xây dựng (X), khôi phục (K)

Địa điểm Tông phái Lâm Tế – Hoàng Bích

(LT-HB)

Nguồn/ ghi chú

Thập Tháp Di Đà

1679 (X) Quy Nhơn LT-HB Tại Quy Nhơn, do Nguyên Thiều sáng lập
Quảng Yên ~1680 (X) Hội An LT-HB

Không rõ nguồn gốc. Phục hồi lần cuối vào năm 1680 bởi người đứng đầu Minh Hương xã.

Ấn Tôn

(Từ Đàm)

1683 (X) Phú Xuân LT-HB Tạo lập bởi Minh Hoàng Tử Dung

Vĩnh Ân

(Quốc Ân)

1683-4 (X) Phú Xuân LT-HB Tên gốc là Vĩnh Ân. Do Nguyên Thiều sáng lập
Di Đà 1685 (X) Hội An Cả hai

Được cho là do Nguyên Thiều xây dựng. Đồ đệ của Đại Sán, Hưng Liên, nhận chức trụ trì năm 1694. Thực hiện việc tu sửa vài năm sau khi Thích Đại Sán rời khỏi đây năm 1696

Hà Trung

1680s (X) Tư Dung gần Thanh Hà LT-HB Do Nguyên Thiều sáng lập
Tam Thai

1680s (X)

Ngũ Hành Sơn (Hội An) Cả hai

Có thể cũng do Nguyên Thiều xây dưng. Cũng do đồ đệ của Thích Đại Sán là Hưng Liên kế thừa

Hàm Long

< 1690 (X)

Phú Xuân LT-HB

Chùa Hàm Long sau đó đổi tên thành chùa Bảo Quốc. Sáng lập bởi Giác Phong

Chúc Thành

< 1694 (X)

Hội An LT-HB Minh Hải Pháp Bảo
Thiền Lâm 1695 (X) Phú Xuân Tào Động

Sáng lập bởi Đại Sán trong thời gian ông ở kinh đô

Thiên Ấn 1695 (X) Quảng Ngãi LT-HB

Sáng lập bởi Minh Hải Pháp Bảo

Kim Cang 1698 (X) Đồng Nai LT-HB

Đồng Nai. Sáng lập bởi Nguyên Thiều

Tất cả 12 ngôi chùa được xây dựng từ năm 1670 đến năm 1698 ở Đàng Trong đều do các thiền sư từ miền nam Trung Quốc xây dựng nên. Các thiền sư thuộc tông phái Hoàng Bích đã xây dựng mới và sửa chữa 10 trong số 12 hai chùa; sư Nguyên Thiều là giám tự của 6 ngôi chùa trong số đó. Tất cả các ngôi chùa đều được xây dựng ở Hội An hoặc Phú Xuân, trừ chùa đầu tiên và hai chùa cuối cùng trong danh sách là chùa Thập Tháp Di Đà ở Quy Nhơn (những năm 1680), chùa Thiên Ấn ở Quảng Ngãi (1695) và chùa Kim Cang (1698). Những chùa này và các thiền sư của nó đã có tác động sâu sắc đến sự phát triển của Thiền tông ở Việt Nam, đặc biệt là hai đại đệ tử của Nguyên Thiều là Minh Hải Pháp Bảo và Minh Hoằng Tử Dung, những người thầy của Thiền sư Liễu Quán, người sáng lập tông phái Thiền lớn nhất ở Việt Nam.

Người Việt, người Hoa và người Minh Hương tiếp tục tài trợ cho việc xây dựng chùa vào thế kỷ XVIII. Chẳng hạn, các thương gia Hội An đã tài trợ cho việc xây thêm hai ngôi chùa nữa vào đầu thế kỷ XVIII. Chùa Vạn Đức được sáng lập bởi Minh Lượng, một đệ tử người Minh Hương của Nguyên Thiều, sinh ra ở vùng cực nam Trung Hoa vào năm 1686. Chùa Phước Lâm do một đệ tử người Việt của Minh Hải Pháp Bảo tên là Ấm Triêm sáng lập. Tuy nhiên, vào thời điểm này, tâm điểm của việc xây dựng đền chùa đã chuyển từ khu vực kinh đô và Hội An sang những vùng xa hơn về phía nam, như Bình Khang (Khánh Hòa), Đồng Nai và Hà Tiên ở vùng đất thuộc lãnh thổ của Chân Lạp ở trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Số lượng lớn các ngôi chùa được xây dựng ở các vùng cực nam suốt thế kỷ XVIII đã chứng minh cho sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực này. Nguyễn Hiền Đức xác định nhiều chùa được xây dựng ở vùng cực nam của Đàng Trong trong suốt thế kỷ XVIII. Tuy vậy, đến thời điểm đó, như Nguyễn Hiền Đức và những người khác đã lưu ý, chức trụ trì ở những thiền viện và đền chùa phát triển nhanh chóng ở Đàng Trong đã chuyển về cho người Việt, giống như ở Nhật Bản.

Vì sao họ lại làm điều đó? Tác giả của một trong những văn bia ở Quảng Yên đã xác nhận một cách rõ ràng về sự bắt buộc phải xây dựng các ngôi chùa Phật giáo ở cộng đồng Minh Hương. “Một nơi để gieo trồng và dự trữ [cây trồng] cả năm để có thể nuôi sống dòng Thiền mãi mãi”, ông viết: “Vì vậy, [chúng ta] cần biết rằng nếu [chúng ta] muốn tương lai hạnh phúc và thịnh vượng, thì [chúng ta] phải gieo trồng hạt giống tốt từ bây giờ. Đạo đức không thể đến nếu không có… Ai có thể đạt được [điều này] mà trước đó không gieo trồng [cây trái]? [Giá trị của việc hiến tặng] sẽ làm người ta sống lâu, giàu có và thịnh vượng một cách vinh quang! Mọi người sẽ thấy thiền viện Quảng Yên rực sáng ngày này qua ngày khác; vầng hào quang của Đức Phật A Di Đà sẽ ngày càng chiếu sáng hơn; sự công bằng của những người phụ nữ và đàn ông Minh Hương sẽ lớn thêm mỗi ngày; và chiếc đèn mà Đức Phật hoặc những quy tắc thực hành soi sáng cho chúng ta sẽ truyền giác ngộ thậm chí bằng nhiều con đường hơn. Giá trị của việc quyên góp thật vậy là không thể đo đếm được”.70

Tác giả, một người từ An Huy (Trung Quốc) tên là Ngô Đình Dần, đã chỉ ra sự liên kết rõ ràng giữa sự phát triển của cộng đồng tăng lữ và cấu trúc đạo đức của cộng đồng Minh Hương trong việc thức tỉnh từ việc bại trận, vào thời điểm mọi cộng đồng trung thành với nhà Minh khác bắt đầu tan rã. Hoặc, nói theo phương diện xã hội học, cộng đồng hiểu cách làm thế nào mà đầu vào của vốn liếng vật chất có thể chuyển biến một cách hiệu quả thành vốn liếng văn hóa, từ đó được chuyển thành các vốn liếng về xã hội, chính trị và những vốn liếng khác. Phần tiếp theo sẽ đưa ra ba ví dụ về tiến trình này.

4. Động cơ của các thương gia

4.1. Quan Âm: Sự neo giữ những liên kết xuyên văn hóa thông qua hình tượng nữ thần của lòng từ bi

Quan Âm – vị “bồ tát của thiện tâm” hay “nữ thần từ bi” đã giúp đỡ cho những thương gia được bà bảo trợ duy trì một mạng lưới thiết chế không chính thức, không chỉ cho phép họ nối kết những khác biệt về xã hội và văn hóa mà còn cả khoảng cách vật lý. Văn bia Phổ Đà Sơn ở Hội An (thực ra là ở Đà Nẵng – người dịch) đã chứng minh cho điều này.

Ở phía bắc Hội An, được bao bọc bởi những ngọn núi đá hoa cương nằm ven biển là thiền viện Tam Thai.71 Đại Sán đã đến thăm nơi đây, nơi mà một đệ tử của ông tên là Hưng Liên là trụ trì thiền viện này.72 Phía sau thiền viện, trong một hang động thờ Quan Âm, có một văn bia niên đại vào năm 1640 tán dương việc trùng tu chùa chiền ở ngọn núi Phổ Đà Sơn này.73 Cái tên “ngọn núi của lòng từ bi” là một cách gọi thông dụng khác của tên Quan Âm. Phổ Đà Sơn là một trong những ngọn núi của Ngũ Hành Sơn nằm ở phía bắc Hội An. Tên của cụm núi này liên quan đến ý tưởng của người Hoa về năm ngọn núi Đạo giáo linh thiêng ở Trung Hoa. Phổ Đà Sơn ám chỉ đến một trong bốn ngọn núi của Đức Phật ở Trung Hoa. Ngọn núi có chùa Phổ Đà Sơn (tiếng Hoa là Putuoshan) với các ngôi chùa và những đỉnh núi thẳng đứng nằm cạnh bờ biển Non Nước (trong văn bản ghi là China coast theo cách gọi của phương Tây – người dịch). Người hành hương đã đổ đến ngọn núi này hàng thế kỷ nay và tin rằng đây là nơi mà vị “nữ thần của lòng từ bi” được sinh ra.74 Nơi này cũng đóng vai trò như là một bến cảng trung tâm và là nơi trao đổi hàng hóa của các thương gia, những kẻ buôn lậu, cướp biển, quân phiến loạn từ khắp các vùng biển châu Á, ít nhất là từ thời Minh.75 Khi văn bia được khắc ở nơi đây, ngọn núi này vẫn đóng vai trò quan trọng như là cơ sở thương mại ven biển của các thương gia Trung – Nhật, giống như vai trò của Hội An.

Có hai điều thú vị về văn bia này. Thứ nhất, tên Phổ Đà Sơn liên tưởng đến một mạng lưới các ngôi chùa thờ Quan Âm song hành giữa các nước, một mạng lưới xuyên văn hóa, như của người Hoa ở Phúc Kiến. Sau nữa, ngôi chùa của người Việt này không phải là hiếm gặp. Dọc bờ biển Đà Nẵng, người ta có thể tìm thấy các thiền viện có liên kết chặt chẽ với những thủy thủ và cộng đồng thương gia mà người địa phương dâng tặng cho “nữ thần từ bi”. Thứ hai, bằng cách sử dụng tên Phổ Đà Sơn, tác giả của văn bia đã ám chỉ một mô hình thu nhỏ của các ngọn núi Phật giáo linh thiêng ở Trung Quốc, trong đó có Phổ Đà Sơn. Với nghĩa này, Phổ Đà Sơn có vai trò như một giao điểm trong mạng lưới hải ngoại của các ngôi chùa Phật giáo ở bên biển và núi, và là mô hình thu nhỏ của Phật địa linh thiêng ở Trung Hoa.

Trong số những mô hình thu nhỏ này của không gian Phật giáo linh thiêng, dưới đôi mắt quán suốt của Quan Âm, các ngôi chùa có thể đóng vai trò như một môi trường xuyên văn hóa, liên kết nhiều người vượt qua các biên giới xã hội, văn hóa và chính trị. Trong số các nhà hảo tâm của ngôi đền được liệt kê trên bia, có tên người Nhật, người Việt và hai tên người Hoa thời Minh. Mối liên minh này được tăng cường qua hôn nhân, như được dẫn chứng qua tên của những người bảo trợ là phụ nữ, chiếm đa số trong danh sách những thí chủ trên văn bia. Trong số 65 thí chủ được khắc tên trên bia, có 38 người là phụ nữ. Phần nhiều trong số họ có vẻ là người Việt, tuy nhiên do tên của họ được viết bằng chữ Hán nên khó có thể khẳng định điều này một cách chắc chắn. Dẫu sao chúng ta có thể nói rằng, những phụ nữ này không chỉ kết hôn với các danh sĩ người Việt mà còn cả với các thương gia người Nhật và người Hoa nữa: cạnh tên của từng phụ nữ là tên của chồng bà ta, như là một người giám hộ.76

Danh sách các thí chủ trên văn bia Phổ Đà Sơn cho thấy một liên minh giữa những thương gia trên biển với giới danh sĩ người Việt bản xứ, chứ không đề cập đến liên minh giữa thương gia người Nhật với người Hoa. Hình thành mối liên hệ chính thể hợp nhất như vậy là một chiến lược đã được ghi chép cẩn thận đối với mục tiêu gắn kết nội bộ và liên minh giữa các nhóm của cộng đồng người Hoa ở hải ngoại. Đối với người Việt, Quan Âm từ lâu đã được chứng minh là hữu ích cho việc hợp thức hóa các thỏa thuận cũng như việc chiếm đoạt các thánh địa của người Chăm, những người trước kia đã thống trị lãnh thổ Đàng Trong và các tàn tích văn hóa của họ vẫn còn lưu dấu rất nhiều ở trong vùng.77 Ngũ Hành Sơn cũng là một trong số những địa điểm đó. Do vậy, vị bồ tát này đã tạo nên một cầu nối hợp lý giữa hai nền văn hóa Việt – Chăm, hay giữa người Việt với người Hoa như đã thấy ở Hội An.

Các cao tăng Phật giáo đã đưa ra quyền lực tôn giáo để giúp hợp thức hóa sự định đoạt về thể chế trong xã hội của các thương gia như một thể thống nhất, và giữa các thương gia riêng lẻ ở thuộc địa với những nhà bảo trợ địa phương. Đôi khi, những đoàn giáo sĩ người Hoa và những thương gia bảo trợ cho họ mong đợi vào quyền lực vượt ra ngoài tôn giáo của đạo Phật, phát triển từ Tam giáo và sự phục hưng của Thiền tông, để nâng cao uy tín của họ, giúp vượt qua các rào cản văn hóa hay chính trị. Với Quan Âm, các thương gia tìm thấy một phương tiện hữu ích. Với vị “nữ thần từ bi” này, các thương gia tìm thấy một vị thần đáp ứng lời thỉnh cầu của mọi Phật tử, và do vậy, có thể hợp thức hóa những thỏa thuận xuyên văn hóa, giúp vượt qua các biên giới xã hội, văn hóa và chính trị. Một vị thần khác cũng giúp họ tồn tại qua những biến động kinh tế chính trị của thương mại đường biển sẽ được trình bày dưới đây.

Tầm quan trọng của Ma Tổ trong trật tự thần linh

Chắc chắn rằng thế giới sẽ thay đổi, và những trật tự cũ không còn đáp ứng được mục tiêu của thế giới mới. Khi tình huống khó khăn như vậy phát sinh, những thương nhân Phúc Kiến có thể tìm đến quyền lực tôn giáo xuyên văn hóa của Phật giáo để biến hóa và ổn định việc thích nghi về thể chế mà họ đã kiến tạo để phù hợp với những thay đổi của môi trường. Điều này được thấy rõ qua việc đề cao nữ thần biển Ma Tổ tại các lãnh địa thương mại của người Hoa ở Đàng Trong, đáp ứng với vị thế của bà đang được nâng lên ở Trung Hoa và với sự thiết lập các thương điếm trong thế giới thương mại người Hoa, cả ở quê hương lẫn ở nước ngoài.

Chính quyền Trung Hoa, các cư dân trên biển của họ, những người Hoa ở nước ngoài và những nhóm người bản địa gốc Hoa như người Minh Hương đã tìm kiếm một công cụ thể chế để thích ứng với hệ thống Yanghang (Hàng hải đại dương?) mới mà chính quyền nhà Thanh thực hiện từ năm 1686. Vì thế, họ chuyển thành các hội quán. Là một thiết chế cũ trong xã hội Trung Hoa, hội quán hay phường hội tồn tại trong suốt thời kỳ mà những người Minh Hương, bị những nhóm buôn bán theo đường biển như các thương gia Phúc Kiến chiếm đoạt và bị chuyển đổi thành một tổ chức tập thể, có khả năng quản lý việc buôn bán và quản lý xã hội của các thương gia phù hợp với hệ thống ngoại thương mới của Trung Hoa.78 Hội quán được biết đến sớm nhất là chùa Cheng Hoon ở Melaka, có lẽ đã được xây dựng vào năm 1673.79 Ở Đàng Trong, hội quán đầu tiên xuất hiện trong các nguồn sử liệu khi Đại Sán đề cập đến năm 1695. Với miêu tả của ông, có vẻ như hội quán đã trở thành một thiết chế bình thường trong thương mại và xã hội ở đây, nhưng điều này vẫn chưa chắc chắn. Dù cho nó được xây dựng từ khi nào, thì rõ ràng là hội quán trong thương mại đường biển được xuất hiện trước tiên ở nước ngoài. Nhà Thanh dễ dàng chiếm đoạt các thiết chế của kẻ thù trước kia của họ. Các ghi chép sưu tập được của Li Shizhen hé lộ rằng ông và những quan lại khác chịu trách nhiệm cải cách chính sách thương mại hàng hải của Trung Hoa đã chiếm đoạt mọi cái hiện có của tổ chức thương mại của những kẻ thù bị họ đánh bại. Điều này bao gồm các yếu tố của tổ chức thương mại hàng hải bất hợp pháp mà thương gia kinh doanh muối đầy quyền lực Shen Shangda đã phát triển cho Shang Kexi khi ông còn là phó vương ở vùng Quảng Châu rộng lớn của Lĩnh Nam trong thời gian từ năm 1650 đến những năm 1670. Quan trọng nhất, hội quán trong thương mại đường biển của Shen đã giúp quản lý các hoạt động thương mại bất chính ở bất cứ đâu mà những quản gia của Shang quản lý việc kinh doanh.80

Nếu những tổ chức này đã tồn tại, vậy các đền thờ Ma Tổ mà chúng ta xác định là rất gần với hội quán của các thương gia người Hoa nằm ở đâu? Trên thực tế, chúng không, hay chưa ở đó. Thật vậy, ở Hội An từ lâu đã ưa thích sự hiện diện của Ma Tổ trong Hải Bình cung của phố cảng. Tuy vậy, hội quán đầu tiên của các thương gia không đặt ở đó. Trong nhật ký của mình, Đại Sán đã ghi lại chuyến thăm của ông đến ngôi chùa “là nơi gặp gỡ của các thương gia Phúc Kiến (còn gọi là hội quán)”. Đó là miếu Quan Công. Thực tế là nhà sư không hề đề cập gì đến Ma Tổ hay đền thờ của bà.

Ghi chép về án thờ Ma Tổ ở các đền thờ và việc thờ phụng vị nữ thần biển tăng lên đều đặn trong suốt thế kỷ XVII.81 Địa phương chí cho thấy có nhiều đền thờ mới dọc theo vùng duyên hải phía nam Trung Hoa suốt nửa sau thời vua Khang Hy trị vì. Là trụ trì của chùa Trường Thọ, Đại Sán cai quản một trong những đền thờ Ma Tổ quan trọng nhất trong nền thương mại hàng hải của người Hoa, đó là đền thờ A Ma ở Ma Cao, và có thể đóng một vai trò trong các buổi lễ tôn vinh vị thế của nữ thần biển này trong đế chế Trung Hoa vào năm 1684.82

Vào một thời điểm nào đó trong thập niên 1690, một sự thay đổi các vị thần đã xảy ra. Một vài năm sau chuyến thăm của Đại Sán, hội quán Phúc Kiến dựng lên một đền thờ Ma Tổ ở thiền viện Kim Sơn, chỉ cách vài trăm mét về phía tây của Chùa Ông.83 Vài năm sau, hội quán chiếm lấy thiền viện vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ XVIII. Cùng lúc đó, một nhóm thương gia cũng xây dựng một tòa Yanghang độc lập và vĩnh cửu, và thiết lập việc thờ Ma Tổ ở đó.84

4.2. Nghĩa trang: bảo đảm sự thỉnh cầu ở dương gian và linh hồn ở âm phủ

Cùng thời gian xây dựng các hội quán mới, những quý tộc trong các lãnh địa thương mại người Hoa như Hội An và Nagasaki cũng thúc đẩy việc thành lập các nghĩa trang công cộng, và trông cậy các vị thiền sư như Đại Sán để đảm bảo kiến trúc chính thống của nghĩa trang. Theo Kwangching Liu, việc xây dựng nghĩa trang theo kiến trúc chuẩn mực phù hợp với sự ra đời của hội quán.85 Điều này cũng góp phần phát triển các cộng đồng thương gia ở nước ngoài bền vững hơn. Tang lễ theo nghi thức Phật giáo cũng giúp mang lại “tính đại diện” cho cộng đồng thương gia người Hoa ở nước ngoài vì nó bắt đầu có một trạng thái bền vững hơn.86

Trong hồi ký của mình, Đại Sán đã ghi lại bản thảo cho một văn bia mà ông viết cho hội quán Phúc Kiến ở Hội An theo thỉnh cầu của những người đứng đầu – những người Minh Hương cao tuổi nhất, sẽ được ghi thêm vào trong văn bia. Câu chuyện thuật lại này cho thấy vai trò của các nhà sư trong việc tìm cách đóng góp vào việc phát triển các cấu trúc chính trị với sự gắn kết văn hóa, điều đã tạo nên sự thành công cho những người tạm trú và những di dân gốc Phúc Kiến muốn hướng văn hóa bản xứ tới một khuôn phép mang tính Trung Hoa nói chung và Phúc Kiến nói riêng. Thật vậy, điều này càng đáng cảnh báo hơn bởi những văn hóa độc hại, thậm chí chết người, hậu quả đang chờ đợi cộng đồng thương mại hàng hải nếu họ từ bỏ các thiết chế văn hóa của họ hàng, quê hương, hay lòng trung thành, như chúng ta có thể thấy trong yêu cầu đầy tâm huyết của Đại Sán cho cộng đồng ở Hội An để hỗ trợ xây dựng một nghĩa trang kiểu Trung Hoa “chính thống”. Điều này đáng để trích dẫn một đoạn dài trong hồi ký của nhà sư: “Khắp nơi đều có xương [của người Hoa] bị bỏ mặc dưới ánh mặt trời và những giọt sương bởi [những linh hồn bị bỏ rơi] đã rời xa gia đình mình mà không quay trở lại. Hiểu được điều này, ta dâng đầy cảm xúc, và ta đã ra lệnh cho vị Quốc sư [đồ đệ của ông, Hưng Liên] nói chuyện với những người đứng đầu của các thương gia Phúc Kiến để trưng thu đất để xây một nghĩa trang công cộng tiếp nhận xương cốt côi cút. Đây là dấu ấn mà ta đã làm được [cho nghĩa trang]. [Bất cứ khi nào] một người có cuộc sống đáng quý phải chịu đựng cái chết, người thân và bạn bè thường sẽ chôn cất xương cốt của họ, như là một minh chứng cho lòng nhân ái của họ. Nhìn tận mắt những xương cốt bị bỏ rơi thành từng mảnh, [và] lắng nghe sự nghèo khổ lưu chuyển, người đã quay lưng lại với đất đai của tổ tiên và rời bỏ quê hương, đến nơi mà ai cũng biết là nơi đâu, không có lý do cũng không mục đích, và không ai [trong số người thân thuộc] có thể cùng đi với họ.87

Trong bài văn bia khác, thương gia xa xứ từ bỏ không chỉ nghĩa vụ đạo đức với dòng họ mình, mà còn cả ý thức về nơi chốn, mục tiêu, thậm chí nhận dạng, và sự bảo đảm phúc lợi mà các chính thể văn hóa như gia đình cung cấp. Tuy nhiên, sự rời bỏ quê hương này trong thế giới đạo đức, chỉ làm tăng nỗi ám ảnh về một linh hồn bị kết tội lang thang không cùng trong thế giới bên kia: Một ngày ló dạng [khi ngươi] quỳ gối trước cái chết, và chỉ sau đó nhớ về ngày mối liên kết gia đình bị phá vỡ, như khoảng cách giữa thiên đường và đại dương… Những linh hồn lưu lạc, khóc than. [Ngươi] mơ về gia đình mình… [Nhưng] xương cốt [của ngươi] chỉ thiêu đốt trong ngọn lửa âm ỉ, được giao phó cho một số “chuyên gia” ở làng quê [Đàng Trong]”.88

Trong những hậu quả có thể rất đáng sợ như vĩnh viễn bị bỏ rơi, Đại Sán đã chọn người bản địa, người Việt, chuyên gia nghi lễ. Bằng ngụ ý, kiến trúc nghĩa trang và khu vực tang lễ có thể không được xây “một cách chính xác” nếu không có chuyên gia nghi lễ thích hợp – tức là một nhà sư Trung Hoa như ông ta. Theo logic trên văn bia này, những mối nguy hiểm riêng lẻ của việc rời xa biên giới thật của Trung Hoa – với những mạo hiểm từng ngày của đắm tàu, bạo lực và bệnh dịch – không là gì khi so với những hậu quả siêu nhiên đang chờ đợi những thương gia và người đi biển rời bỏ biên giới xã hội hay văn hóa và giao phó số mệnh của họ cho xã hội địa phương. Do đó nghĩa trang giữ chức năng sống còn đối với mỗi lãnh địa trong cộng đồng người Phúc Kiến ở hải ngoại, như là một cách nhắc nhở quan trọng về cội rễ văn hóa và nhờ đó như những dấu ấn về nhận dạng, như là một phần trong chiến lược văn hóa lớn hơn dựa vào các thiết chế dòng họ, văn hóa, quê hương và đức tin.89 Các thiền viện cung cấp các chuyên gia nghi lễ, những người thực thi các quy ước thực tế và nhận dạng, và bằng cách đó giúp giữ gìn logic văn hóa thống nhất xuyên qua các khoảng cách xa xôi, cần thiết cho sự tồn tại của cộng đồng thương nhân người Hoa ở hải ngoại.

5. Kết luận

Các thiền viện Phật giáo và những ngôi miếu thờ thần nơi đây đã cung cấp một phương tiện thể chế để bảo đảm hoạt động thành công cho các lãnh địa thương mại trong cộng đồng hải ngoại mà người Hoa từ Phúc Kiến đã tạo ra trong suốt thế kỷ XVI và XVII. Đổi lại, các thương gia đã cung ứng cho các nhà sư Phật giáo phương tiện để mở rộng thiền viện của họ và thiết lập cộng đồng ra nước ngoài nhằm đáp ứng như cầu của họ. Điều này là rất rõ ràng trong trường hợp của Đàng Trong. Các thương gia người Hoa ở đây đã đầu tư tiền bạc vào các di tích Phật giáo cổ xưa trong xã hội và nhà nước người Việt, và tiền lệ của nó ở miền Trung, để duy trì sự gắn kết giữa các nền văn hóa bền chặt và linh hoạt, thúc đẩy các lợi ích của họ ở trong các lãnh địa thương mại của người Hoa ở Đàng Trong. Khi cộng đồng người Hoa trở nên đa dạng, và nhóm người Minh Hương phát triển tách biệt khỏi các thương gia quý tộc Trung Hoa, các miếu thờ thần đã chuyển đổi nhưng các thiền viện vẫn duy trì các liên kết thể chế với họ. Để làm điều đó, người đứng đầu cộng đồng người Hoa ở Hội An đã tổ chức lại các vị thần mà họ bảo trợ. Họ chuyển hội quán Phúc Kiến ra khỏi miếu Quan Công, nơi mà làng Minh Hương cũng cai quản, và đặt nó dưới sự quán xuyến của Ma Tổ trong một ngôi miếu khác là Kim Sơn. Quan Âm cũng tạo nên một một liên kết chính thể phổ biến cho tất cả các Phật tử. Việc tiếp tục bài trí bàn thờ vị bồ tát này ở trong các ngôi chùa đảm bảo rằng Phật giáo tiếp tục cung cấp một nền tảng chung nơi mọi người liên quan đến việc kinh doanh thương mại ở Đàng Trong, vượt qua những sự khác biệt giữa các nhóm người. Đồng thời, các nhà sư người Hoa di cư sang Đàng Trong trong những năm 1680 – 1690 đã yêu cầu một sự gắn kết lớn hơn với một hệ tư tưởng của các loại hình văn hóa Trung Hoa, củng cố thêm định hướng của cộng đồng hướng về Trung Hoa, như phần giới thiệu về nghĩa trang ở Hội An đã chỉ rõ. Trong tất cả những cố gắng đó, các Phật tử khẳng định thẩm quyền tôn giáo dựa vào tất cả các mối quan hệ điều chỉnh thương mại ở Đàng Trong.

Chú thích

44 Xem Lời giới thiệu của Sanjay Subrahmanyam trong Merchant Networks of the Early Modern World (Mạng lưới thương gia của thế giới cận đại) (Aldershot: Varorium, 1996), xiii-xx.

45 Kwang-ching Liu, “Chinese Merchant Guilds: A Historical Inquiry” (Hội quá thương gia người Hoa: Một cuộc điều tra lịch sử), Pacific Historical Review, 57.1 (1988): 10.

46 Greif, “Coordination, Commitment, and Enforcement” (Phối hợp, cam kết và thực thi), 761.

47 Wheeler, “Buddhism in the Re-Ordering” (Phật giáo trong sự tái sắp xếp), 312-313.

48 James Watson, “Standardizing the Gods: The Promotion of T’ien Hou (Empress of Heaven) along the South China Coast 960-1960” (Sự chuẩn hóa các vị thần: sự thăng cấp của Thiên Hậu dọc duyên hải nam Trung Hoa 960-1960) trong Popular Culture in Late Imperial China, David Johnson và cộng sự biên tập. (Berkeley: University of California Press, 1985), 300.

49 Li Shizhen, Li Xu fuzi nianpu, 178-179.

50 Aloysius Chang, “The Chinese Community of Nagasaki in the First Century of the Tokugawa Period (1603-1688)” [Cộng đồng người Hoa ở Nagasaki trong thế kỷ đầu tiên của giai đoạn Mạc phủ Tokugawa (1603-1688)] (Luận án tiến sĩ, St. John’s University, New York, 1970), 113-137. Jiang Wu, “Leaving for the Rising Sun: the Historical Background of Yinyuan Longqi’s Migration to Japan in 1654” (Ra đi tìm mặt trời mọc: nền tảng lịch sử cho chuyến đi của Ẩn Nguyên Long Kì đến Nhật Bản năm 1654), Asia Major 3: 17.

51 Bốn ngôi chùa bao gồm: (1) Kokufu, xây năm 1623, Fukasaiji, AKA Tuyền Châu, xây bởi nhóm thương gia Quan-Zhang năm 1628; (3) Sofukuji, AKA Phúc Châu, xây bởi nhóm thương gia Phúc Châu năm 1629; và (4) Shofukuji, AKA Quảng Châu (dù nó được xây bởi một người nam Phúc Kiến). Chang, “Chinese Community of Nagasaki” (Cộng đồng người Hoa ở Nagasaki) 113-137; Jiang Weitan, “Qingdai shang huiguan yu Tianhou gong” (Hội quán thương mại thời Thanh và đền Thiên hậu), Haijiao shi yanjiu (Tuyền Châu), 27.1 (1997): 50; Wu Jiang, “Orthodoxy,” 273-274.

52 Louis Jacques Bergere IV, “The Overseas Chinese Community in Seventeenth-Century Nagasaki” (Cộng đồng Hoa kiều ở Nagasaki thế kỷ XVII), Luận án tiến sĩ (Harvard University, 2004), 103-126; Wang, “Merchants without Empire” (Thương gia bên ngoài đế chế), 410; Wu, “Orthodoxy” (Chính thống), 269-280.

53 Wu, “Orthodoxy” (Chính thống), 20, 55, 110.

54 Baroni, Obaku, 35-57, 82-83; Baroni, Iron Eyes: the Life and Teachings of the Obaku Zen Master Tetsugen Doko (Đôi mắt sắt: cuộc đời và những bài giảng của Thiền sư Tetsugen Doko dòng Thiền Obaku) (Albany: State University Press of New York, 2006), 15-17, 26-28; Zhong-Ri wenhua jiaoliu shidaxi (Tư liệu về giao lưu văn hóa Trung – Nhật), 10; Renwu juan (Nhân vật truyện); Wang Yong (Hàng Châu: Triết Giang nhân dân xuất bản xã, 1996); và Wu, “Orthodoxy”, 254-304.

55 Wheeler, Ghi chép điền dã, Tháng 6.1999.

56 HWJS (Đài Bắc), 83, 107. Giáo sư Trần Quốc Vượng, Thư từ riêng, Tháng 6 1998.

57, 58 Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 62, 93-94, 136-138, 17.

59 Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 48, 92, 136; Wheeler, “One Region, Two Histories: Cham Precedents in the Hoi An Region” (Một vùng đất, hai lịch sử: tiền lệ của người Chăm ở khu vực Hội An) trong Viet Nam: Borderless Histories, Nhung Tuyet Tran và cộng sự biên tập (Madison: University of Wisconsin Press, 2006), 172-173.

60 Phần còn lại của miếu Âm Bổn ở Hội An được gọi là chùa Bà Mụ. Wheeler, Ghi chép điền dã, Tháng 5.1999.

61 Chẳng hạn xem trong Đại Nam nhất thống chí, Tập 3: 103-104; HWJS (Đài Bắc), 108.

62, 64 Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 55, 113, 152, 120, 156-157.

63 Không thể tìm thấy ghi chép nào cho biết về vị trụ trì của ngôi chùa hay những vị trụ trì trước năm 1694.

65 HWJS (Đài Bắc), 108.

66 Bảo tàng Văn hóa Hội An, Tháng 5.1999.

67 Một văn bia đã được phiên âm và dịch nghĩa trong Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 92, 136. Một bia khác ở sau bức tường bên trong Chùa Ông đã được tác giả phiên âm và dịch nghĩa.

68, 70 Văn bia Quảng Yên, Chùa Ông, Hội An.

69 Nguồn: Nguyễn Hiền Đức, Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Ghi chép điền dã, Phủ biên tạp lục, Ch’en.

71 Đại Nam nhất thống chí (Sài Gòn, 1964), quyển 5, trang 58 (quốc ngữ), trang 15 (chữ Hán). Chùa Tam Thai cũng được Nguyễn Hiền Đức đề cập trong Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, 200-3. Những ngọn núi này là Ngũ Hành Sơn, còn được biết đến với tên “Marble Mountains” (Núi cẩm thạch). Về di tích tôn giáo ở Ngũ Hành Sơn, xem: “Le montagnes de marbre” (Ngũ Hành Sơn), Bulletin des Amis à Vieux Hué, 24.1 (1924), về chùa Tam Thai, xem trang 104-107.

72 Hưng Liên cũng thiết lập chùa Mỹ An trên núi Mỹ An, 1691

73 “Phổ Đà sơn linh trung Phật”, Bản dập văn bia, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội, Số 12623. Xem thêm: Albert Sallet, “Le montagnes de marbre” (Ngũ Hành Sơn), Bulletin des Amis à Vieux Hué, 24.1 (1924): 131-133

74 Về các ngôi chùa ở Phổ Đà Sơn, xem Chün-fang Yü, Kuan-yin: The Chinese Transformation of Avalokitesvara (Quan Âm: Sự biến đổi của người Hoa về Quan Thế Âm), (New York: Columbia University Press, 2000), 353-406. Về Bốn ngọn núi thiêng, xem Yü, “P’u-t’o Shan: Pilgrimage and the Creation of the Chinese Potalaka” (Phổ Đà Sơn: Cuộc hành hương và sự sáng tạo thánh địa Phổ Đà của người Hoa) trong Pilgrims and Sacred Sites in China (Người hành hương và những nơi hành lễ ở Trung Quốc), Susan Naquin và Chün-fang Yü biên tập (Berkeley: University of California Press, 1992), 190.

75 Lin Renchuan, Mingmo Qinchu (Minh mạt, Thanh sơ), 140-141; Chün-fang Yü, Kuan-yin: The Chinese Transformation of Avalokitesvara (Quan Âm: Sự biến đổi của người Hoa về Quan Thế Âm), (New York: Columbia University Press, 2000), 373. Thương gia người Hoa ở Phổ Đà Sơn nói với các thương gia Hà Lan rằng các nhà sư trên đảo tham gia vào việc bắt và bán trẻ con. Wills, “Contingent Connections,” 184.

Hơn nữa, Phổ Đà Sơn như là một nơi mang các nhà sư, thương gia, cướp biển và những người du hành khác đến với nhau, xem Yü, 354-406.

76 “Phổ Đà Sơn linh trung Phật”.

77 Wheeler, “One Region, Two Histories” (Một vùng đất, hai lịch sử), 163-93; Nguyen The Anh, “The Vietnamization of the Cham Deity Po Nagar” (Sự Việt hóa Nữ thần Po Nagar của người Chăm), 49.

78 Ng Chin-keong, The Amoy Network.

79 Jiang, “Qingdai shang huiguan” (Hội quán thương mại thời nhà Thanh) 49; Salmon, “Refugies Ming” (Những người tị nạn triều Minh), 191-192.

80 Viraphol, Tribute and Profit (Đồ cống nạp và lợi ích), 42; Peng Zeyi, 16-19.

81 Baroni, Obaku, 32-3; Jiang, Shilian Dashan (Thạch Liêm Đại Sán), 446-468; Wu, “Orthodoxy” (Chính thống), 275-277.

82 Jiang, Shilian Dashan (Thạch Liêm Đại Sán), 446-468.

83 Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 65.

84 Dương thương hội quán quy lễ (Quy định về lễ lượt tại hội quán của các thương nhân hàng hải). Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số M.180. Xem thêm: Ch’en, Notes on Hoi-an (Ghi chép về Hội An), 95-98, 138-141; “Dương thương hội quán” (Hội quán của các thương nhân hàng hải), 148-156.

85 Liu, “Chinese Merchant Guilds” (Hội quán của thương gia người Hoa), 11.

86 HWJS (Đài Bắc), 109-110. Về Nagasaki, xem: Chin, “Merchants” (Thương gia) 117; Engseng Ho, The Graves of Tarim: Genealogy and Mobility across the Indian Ocean (Berkeley: University of California Press, 2006), 14. Hồ ghi chú rằng các ngôi mộ đem lại năng lực “để tạo ra những động lực sức mạnh với tiềm năng tạo ra cộng đồng không dựa trên sự phát giác mà dựa trên đôi điều phôi thai trong quần thể các ngôi mộ” (25).

  1. HWJS (Đài Bắc), 109-110.
  2. HWJS (Đài Bắc), 109-110.
  3. Liu, “Chinese Merchant Guilds”, (Hội quán của thương gia người Hoa), 11.
Đăng tải tại Câu chuyện lịch sử | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

MÔI TRƯỜNG, DÒNG CHẢY XÃ HỘI VÀ THAY ĐỔI VĂN HÓA: SỰ HÌNH THÀNH CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM TỪ CÁC CẢNG BIỂN TRONG NHỮNG NĂM 1650 – 1750

Phần 1

1. Lời mở đầu

Vào thế kỷ XVII, các Thiền sư Trung Hoa đã đi ra biển. Làn sóng đầu tiên bắt đầu đi đến Nhật Bản vào những năm 1650, khi nhà sư Ẩn Nguyên (Ingen) thuộc môn phái Hoàng Bá Lâm Tế vượt biển đến Nagasaki. Làn sóng thứ hai đi đến Việt Nam vào những năm 1680 khi Nguyên Thiều, một nhà sư khác của môn phái Hoàng Bá đã vượt biển đến Đàng Trong. Làn sóng vượt biển này kéo dài trong suốt một thế kỷ. Thiền tông được tiếp thêm sinh lực, đã trở nên phổ biến trong những thương nhân đường biển vào thế kỷ XVI, và các môn phái của Thiền tông phương nam vốn đã thịnh hành ở phía nam Trung Hoa, đã phát triển thành một cơ cấu có lợi cho việc khuyến khích xây dựng các ngôi chùa và mở mang các tự viện vào thế kỷ XVII. Những môn phái này đã phát triển mạnh hơn trong những cộng đồng người Hoa ở hải ngoại khi nhà Minh (1368 – 1644) tăng cường các hạn chế hàng hải. Ban đầu, các nhà sư đi biển để giúp đỡ thương nhân – những người mà trong những năm 1650 có sự gắn kết mạnh mẽ với cộng đồng người Minh hương để bảo đảm sự hội nhập xã hội và thống nhất văn hóa, cả trong những nhóm kiều dân riêng rẽ lẫn trong những cộng đồng lớn ở bên kia đại dương. Các Phật viện từ Trung Hoa đã cung cấp cho các thương gia đường biển người Hoa một vũ trụ quan theo trật tự chính trị – kinh tế, giúp họ giải quyết “nhiều vấn đề cơ bản của thương mại” bằng cách khuyến khích tính linh hoạt, thích nghi và “đa phương”, đáp ứng với những tình huống không lường trước có thể xảy ra.1 Điều này đã giúp cho Hoa kiều ở các khu phố Tàu, vốn đang ngày càng đông đảo hơn, tích hợp địa vị xã hội chưa được mạnh mẽ của họ vào một tổng thể hội nhập, bền vững và mềm dẻo, trải trên một vùng biển rộng lớn và hỗn loạn. Quyền lực của các Phật viện này tăng nhanh bất cứ khi nào các tín đồ thương nhân của họ đến  định cư tại những khu vực mà Thiền tông đã nắm quyền. Ở đó, các nhà sư sử dụng quyền lực tôn giáo, qua đó, dễ dàng vượt qua các rào cản văn hóa. Họ hài hòa hóa lợi ích chung và lợi ích cạnh tranh của những ông chủ ở địa phương: những người Hoa bị trục xuất khỏi Trung Hoa trước đây, những người Minh Hương trung gian và giới tinh hoa người Việt.2 Đổi lại, những nhà truyền giáo của Thiền tông đảm bảo che chở họ khỏi các tác nhân ảnh hưởng. Sở hữu vốn liếng vật chất, vốn liếng xã hội và cả vốn liếng chính trị để truyền đạo qua các nền văn hóa, nhiều nhà sư di cư đã rời các khu vực buôn bán và đi vào thế giới mới của những người dân bản xứ. Ở đó, họ và những tu viện của mình giúp xúc tác, ổn định và mở rộng mạng lưới xã hội thứ ba, chính là nhà nước.

Cùng với thời gian, xu hướng các nhà sư Trung Hoa di cư bằng đường biển đến các quốc gia ngoài Trung Quốc dần dần kết thúc vào những năm 1690. Các nhà truyền giáo người Hoa đã tạo nên một dòng chảy mới về văn hóa và tương tác xuyên đại dương. Điều này làm thay đổi cảnh quan kinh tế, xã hội, chính trị và tôn giáo của Đàng Trong với một hệ quả lâu dài đối với lịch sử Việt Nam.

Bài viết này sẽ xem xét cách thức mà các thiết chế Phật giáo đóng góp vào sự phát triển của nền thương mại và xã hội người Hoa ở Đàng Trong. Bài viết tìm hiểu sâu về cách các nhà truyền giáo đã đáp ứng như thế nào với những thay đổi trong sự chuyển dịch của con người, hàng hóa và các ý tưởng trong lĩnh vực hàng hải của vùng Đông Á rộng lớn và qua đó, đã tạo nên sự thay đổi ở Đàng Trong. Bài viết này phân tích vấn đề theo hai hướng: Đầu tiên là khảo sát các tiền đề lịch sử để truyền bá đạo Phật vào Đàng Trong. Thứ hai là xem xét ba trường hợp xây dựng chùa chiền được thực hiện bởi các nhà sư Trung Hoa với sự bảo trợ của các thương gia ở Đàng Trong. Hai trường hợp xây chùa đầu thể hiện việc các chùa chiền đã giúp cho các thương gia ở Đàng Trong thiết lập cộng đồng của họ. Còn trường hợp thứ ba, thì xem xét Phật giáo đã dùng quyền năng tôn giáo của của mình để thúc đẩy chiếc cầu giao lưu văn hóa ở Đàng Trong như thế nào?

2. Các tiền đề

Chúng ta thường không nghĩ Phật giáo như một lực đẩy sáng tạo phía sau sự phát triển của thương mại, của các cộng đồng di dân hay của các nhà nước – ít nhất không phải ở đỉnh của kỷ nguyên hiện đại. Chẳng hạn, Abner Cohen đã liệt kê tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới trừ Phật giáo trong luận án quan trọng của ông về các cộng đồng di dân thương mại.3 Các nhà nghiên cứu về “Con đường tơ lụa” ghi nhận Phật giáo như là một trong những tác nhân chủ đạo của thương mại quốc tế. Tuy nhiên, họ cho rằng tôn giáo này đã đánh mất vai trò của mình trong thế giới cổ xưa, ngay cả khi họ tiếp tục cho Phật giáo như là sự ẩn dật cả trong tương lai.4 Tuy nhiên, đây lại chính là điều đã xảy ra ở Đàng Trong. Vào thời kỳ cổ xưa của “Con đường tơ lụa” trên biển, những nhà hải hành đã tạo nên một kênh liên lạc xuyên đại dương, qua đó các nhà sư và những người trợ giúp họ di cư ra nước ngoài để truyền bá giáo lý. Khi họ xây dựng các chùa chiền mới và chiêu mộ những Phật tử mới, những nhà truyền giáo của Thiền tông đã củng cố vai trò chính thể của đạo Phật trong việc mở rộng thuộc địa và hình thành nhà nước. Điều này làm thay đổi Đàng Trong, khi thiết chế Phật giáo tạo lập xã hội và nhà nước trong buổi đầu của kỷ nguyên “Con đường tơ lụa”.

Qua các cảng biển, các nhà sư Phật giáo, dù là người nước ngoài, đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhà nước và xã hội trong lịch sử Việt Nam từ khi Phật giáo được truyền tới khu vực biển Đông trong buổi đầu của “Con đường tơ lụa” vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên. Họ đến chủ yếu bằng đường biển. Trên những thuyền buôn, những nhà sư truyền đạo đã sớm đến Giao Chỉ, vùng đất mà chúng ta vẫn thường cho là khu vực Hà Nội ngày nay, và mở rộng đến bắc miền Trung Việt Nam (dưới tên Giao Châu và sau đó là An Nam).5 Trong suốt thiên niên kỷ I sau Công nguyên, vùng đất này đã chịu sự quản lý của hàng loạt các vương triều Trung Hoa với thị trường cung cấp một lượng lớn hàng hóa từ Nam và Đông Nam Á. Tuy vậy, Giao Chỉ vẫn thu hút những người đến từ những nơi xa xôi ở bên ngoài. Bằng cách này, Giao Chỉ đã giữ vai trò như một trung tâm của “Con đường tơ lụa” cổ đại về thương mại và văn hóa.6 Do đó, không mất nhiều thời gian cho đến khi nhà truyền giáo đầu tiên tới đây bằng đường biển vào thế kỷ thứ III sau Công nguyên.

Nhà nghiên cứu Cuong Nguyen Tu đã nhận thấy rằng phần lớn những nhà truyền giáo Phật giáo sớm đặt chân đến Giao Chỉ, là đến từ Ấn Độ và Trung Á.7 Một trong số những nhà sư này là Khương Tăng Hội. Tăng Hội là đứa trẻ mồ côi của vùng đất Sogdians, một nền văn hóa thương nghiệp có trung tâm tại Samarkand, Trung Á. Lớn lên ở Giao Chỉ vào thế kỷ III, sau khi thụ phong, ông đã có nhiều năm giảng dạy và dịch chữ Phạn sang chữ Hán.8 Nhà sư Trung Hoa Vô Ngôn Thông (mất năm 826) là một nhà sư Trung Á quan trọng khác ở Giao Chỉ. Ông di cư theo đường bộ từ vùng Trung Á đến Trung Hoa trước khi đi thuyền từ Phiên Ngung (Quảng Châu) đến Giao Chỉ trên một chiếc thuyền buôn. Ở đó, ngay tại đồng bằng sông Hồng, ông đã thiết lập một Thiền viện lâu đời thứ hai tại Việt Nam ngày nay.9 Giống như những đồng môn của mình trên “Con đường tơ lụa” nổi tiếng, những nhà sư xây dựng chùa chiền và sau đó mở mang hoạt động trong một khu vực mậu dịch rộng lớn, ở đây là trung tâm thương mại hàng hải của Giao Chỉ. Một khi đã thiết lập được, họ sẽ nhận được sự ủng hộ của giới tinh hoa bản xứ trước khi họ di cư ra bên ngoài: phía đông thì đến Trung Hoa bằng đường biển, phía tây thì đến lục địa Đông Nam Á và phía nam thì vào đất Champa.

Các nhà sư đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhà nước Đại Việt độc lập sau khi vùng đồng bằng sông Hồng tách khỏi sự cai trị của Trung Quốc vào thế kỷ thứ X. Các nhà sử học đôi khi đã ghi công của Thiền sư Vạn Hạnh trong việc giúp đỡ các vua triều Lý kiến thiết một đất nước của người Việt bền vững trong thế kỷ XI.10 Trong cuốn sách viết về lịch sử của các dòng Thiền ở đồng bằng sông Hồng vào thế kỷ XIV, cuốn Thiền uyển tập anh, đã tiết lộ nhiều hơn về các nhà sư này.11 Các chính thể độc lập phát triển ở đồng bằng sông Hồng suốt thế kỷ X và XI chủ yếu dựa vào liên minh hình thành giữa “một nhà nước liên kết của các thế lực địa phương” và một mạng lưới cộng đồng các chùa chiền.12 Người ta có thể quan sát liên minh này về mặt địa lý, bởi sự cận kề của các cấu trúc chính trị nằm sát các chùa chiền Phật giáo.13 Liên minh chính trị và tôn giáo này dường như chồng chéo lên hệ thống phân cấp của thị trường, tại thời điểm này bao gồm cả thương mại ven biển và trên biển.14 Các nhà sư đã tự biến mình trở thành “không thể thiếu cho các hoàng đế chiến binh mong manh” của nhà nước Đại Việt non trẻ, bằng cách cung cấp hệ tư tưởng chính trị, mô hình lãnh đạo đất nước và khả năng tổ chức để huy động người lao động, tiền của và pháp lý thay mặt cho những người ủng hộ họ.15 Paul Mus, học giả người Pháp nổi tiếng về xã hội Việt Nam, đã nhận ra chức năng của hệ tư tưởng không thể thiếu mà Phật giáo đã sử dụng thông qua khái niệm cakravartan hay vị Phật hoàng, như là một phần của sự tổng hợp giữa đạo Mencian, Ấn Độ giáo, Phật giáo và các khái niệm linh vật về vương quyền phù hợp với hoàn cảnh địa phương.16 Những nhà sư như Vạn Hạnh đã giúp đỡ để bảo đảm quyền lực của thể chế Phật giáo trong chính thể Đại Việt mới, nhờ vào chức danh Quốc sư: là người thầy, nhà tư vấn, thậm chí giữa vai trò kiểm soát trong nền chính trị triều đình Đại Việt.17

Các cộng đồng chùa chiền cũng cung cấp những kỹ năng thực tiễn. Trình độ của một vài nhà sư giúp họ trở thành ứng viên lý tưởng cho các chức quan trong triều đình, kể cả việc là sứ thần đi sang Trung Quốc hay bất cứ nơi đâu sử dụng chữ Hán.18 Lê Đại Hành, người sáng lập triều đại thứ hai ngắn ngủi của Đại Việt (980-1009), đã chỉ định Thiền sư Khuông Việt, người “đã tham gia vào mọi vấn đề quân sự và triều chính”, để tiếp đón sứ thần Trung Hoa đến tuyên phong cho nhà vua của Đại Việt trở thành một phiên vương của Trung Hoa.19 Vai trò của Phật giáo tồn tại đến thế kỷ XIII, khi tôn giáo và quyền lực nhà nước tổng hòa trong vị vua Trần Nhân Tông, người ủng hộ Phật giáo Thiền tôn rất nhiệt thành và là người sáng lập một môn phái Thiền riêng ở là chùa Trúc Lâm. Ông là vị vua mà nhiều người Việt vẫn xem như hình ảnh của một vị Phật hoàng.20

Về sau, vị thế quan trọng của các nhà sư trong trung tâm quyền lực của triều đình dần dần bị suy yếu. Sự thay đổi chính trị đã khiến cho các nhà sư Đại Việt chỉ có thể tác động đến các triều đại đang hướng theo Nho giáo từ bên lề của triều đình. Tuy nhiên, Phật giáo vẫn là một thế lực mạnh trong chính trị Đại Việt. Trong suốt giai đoạn Nho giáo thống trị triều đình Đại Việt, từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVI, các nhà sư tiếp tục thực hiện chức năng kiểm soát gián tiếp và không chính thức, một phần là do họ vẫn có vị trí trong xã hội làng xã địa phương, phần khác do vẫn tiếp tục duy trì ý tưởng về thể chế Phật giáo vốn có trong phủ Quốc sư, và một phần nữa là nhờ vào sự hấp dẫn của ý tưởng về Phật hoàng.21 Sự tồn tại quyền lực bên cạnh triều đình như vậy đã duy trì ý tưởng về nền quân chủ Phật giáo cho tới khi nó được phục hồi dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Ở miền Trung Việt Nam trước khi bị người Việt chinh phục, Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế và tôn giáo của người dân sống dưới các chính thể Champa khác nhau, vốn cai trị khu vực này từ thiên niên kỷ I. Điều này được minh chứng rõ ràng nhất trong các đền chùa đổ nát ở Đồng Dương, nằm ở phía nam Hội An. Các nhà Champa học tranh luận rằng Phật giáo ở đây đã biến mất trong thế kỷ XIII.22 Tuy nhiên, điều này có vẻ rất không đúng, vì những người Việt theo hệ phái Thiền luôn bận rộn thôn tính vùng phía bắc vương quốc Champa và xây dựng đền chùa ở những nơi thôn tính được. Thậm chí đến tận giữa thế kỷ XVI, trước khi Nguyễn Hoàng đến đây, và khi nền văn hóa chủ đạo của vùng này vẫn là nền văn hóa không mang bản sắc Việt, thì Phật giáo đã phát triển mạnh, như được minh chứng trong điều tra của Dương Văn An về các đền chùa Phật giáo ở Thuận Hóa vào năm 1555.23 Ông viện dẫn đến chùa Thiên Mụ, cho thấy vốn có nguồn gốc ban đầu để thờ phụng vị thần Po Nagar của người Chăm, hay là Thiên Y A Na như cách gọi của người Việt sau này.24 Sau nay, Phật giáo nơi đây dường như đã bị biến đổi trong một thời gian dài nhưng chưa bao giờ bị biến mất.

2.1. Thiền tôn “pha trộn” ở Đàng Trong

Ở Đàng Trong, Phật giáo đã lấy lại vai trò trung tâm trong nền chính trị của triều đình người Việt. Vị chúa đầu tiên Nguyễn Hoàng đã theo đuổi việc bảo trợ cho các đền chùa tại các khu vực tín ngưỡng quan trọng như là một phần trong những động thái đầu tiên của ông hướng đến tự chủ sau năm 1600. Địa vị của Phật giáo tiếp tục phát triển dưới thời các chúa Nguyễn Phúc Tần và Nguyễn Phúc Trăn (đúng tên là Nguyễn Phúc Thái – người dịch), và đạt đến đỉnh cao sau khi chúa Nguyễn Phúc Chu cầm quyền vào năm 1691.25 Ở khía cạnh khác, Đàng Trong đã thoát ra khỏi các tiền lệ lâu đời vì nó tạo lập vai trò mới cho Phật giáo trong trật tự xã hội và chính trị người Việt. Nguyễn Hiền Đức, Li Tana và Nola Cooke đã phát triển một luận thuyết, được đề xuất bởi một thế hệ các học giả người Pháp trước đây, rằng thể “pha trộn” của Phật giáo đã đóng một vai trò tư tưởng quan trọng trong sự hình thành nhà nước mới ở Đàng Trong. Theo luận thuyết này, Phật giáo đã cung cấp cho triều đình các chúa Nguyễn một thế giới quan bao quát, làm cho các chúa Nguyễn có khả năng điều hướng “khu rừng rậm” của những đức tin duy linh bản địa tại những nơi mà họ đã chiếm được và biến thành thuộc địa.26 Các chúa đảm bảo lòng trung thành quan trọng một phần bằng cách “tích hợp các tinh thần và các thần linh bản địa vào trong một khuôn khổ tổng thể của sự hòa trộn tôn giáo”.27 Làm như vậy, họ sẽ có thể thống nhất “tinh thần và thần linh bản địa vào trong một khuôn khổ Phật giáo người Việt… đem lại tính hợp pháp về đạo đức cho quyền cai trị của chúa Nguyễn”.28 Cùng lúc đó, triều đình tìm kiếm để đưa ra một tước vị thích hợp ở cấp triều đình bằng việc giới thiệu các nhà sư như Nguyên Thiều đến từ Trung Hoa.

Nhắc lại những quan sát của mình về Nguyên Thiều và đoàn tùy tùng của ông năm 1680, nhà truyền giáo người Pháp Benigne Vachet đã viết “Có khoảng 30 nhà sư cùng với sư phụ”, “vì nhà vua thường xuyên kính cẩn giới thiệu một vài nhà sư Trung Hoa khi tiến hành nghi lễ theo thể thức thích hợp”.29

2.2. Tam giáo đồng nguyên và Thiền tông phục hưng

Chìa khóa cho sự thấu hiểu những thành công của Phật giáo trong việc quản lý “khu rừng” biểu tượng, những đức tin và tập quán ở Đàng Trong, và vai trò lâu đời của nó như một công cụ thi hành của các quy tắc tôn giáo trong đời sống triều đình và làng quê, nằm ở Tam giáo. Trong suốt một thời gian dài, đó là giáo lý quan trọng đối với người dân Đàng Trong và những thương gia đường biển người Hoa (và cả thương gia Nhật Bản trước khi thương gia người Hoa không còn xuất hiện nữa). Tư tưởng của Tam giáo tìm kiếm sự hòa hợp các yếu tố Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo trong một thể thống nhất. Mặc dù trên thực tế, nó đem lại một phương cách để khống chế các tôn giáo trong vùng và các bản sắc địa phương thông qua sự chiếm hữu. Thời điểm xuất hiện Tam giáo bắt đầu ít nhất là từ thế kỷ thứ VI, vào thời điểm mà khu vực Hà Nội trong vùng đồng bằng sông Hồng vẫn nằm trong tầm kiểm soát chính trị của Trung Hoa. Phật giáo dĩ nhiên đã thúc đẩy sự liên kết bình đẳng với nhau và sự tổng hòa giữa ba tôn giáo dưới chế độ quân chủ và sử dụng nó để lồng ghép các vị thần dân gian vào các đền chùa của họ.30 Điều này đã trở nên rõ nét vào thế kỷ thứ X, khi tầng lớp tinh hoa ở vùng đồng bằng sông Hồng đã đấu tranh để tạo lập một nền độc lập chính trị lâu dài khỏi triều đình Trung Hoa. Các nhà sư đã lồng ghép tư tưởng này vào trật tự chính trị mới của Đại Việt qua thể chế Quốc sư.31

Tư tưởng Tam giáo đã phát triển mạnh qua nhiều thế kỷ nhờ vào nguồn sung lực mà các nhà sư và những nhà hiền triết khác đã duy trì được với đất nước Trung Hoa bằng việc tiếp tục trao đổi con người, sách vở và những vật dụng khác qua những trao đổi qua đường biển và theo đường bộ. Do khái niệm của Tam giáo phát triển mạnh mẽ, nên các trường học ra đời, phát triển và biến đổi. Hệ quả lớn nhất của những thay đổi này xảy ra vào thế kỷ XVI, khi một dạng mới của Tam giáo đã bao trùm các cộng đồng dân cư Hoa kiều ở cảng biển. Sự kiện này xảy ra trùng hợp và cộng hưởng với sự phục hưng của Phật giáo Thiền tông. Sự phục hưng này đã truyền cảm hứng cho các nhà sư để truyền giáo ra nước ngoài, đến vùng đất của các thương gia ở những nơi như Đàng Trong. Gần mười thế kỷ sau khi những phiên bản đầu tiên của dạng tôn giáo tổng hợp này đến Giao Chỉ, một phiên bản mới của Tam giáo vào Đại Việt từ các cảng ở Phúc Kiến. Ở đó, vào giữa thế kỷ thứ XVI, một Nho sĩ bản xứ đã cố gắng phổ biến Nho giáo bằng cách tạo ra sự sùng bái đối với “Tam giáo đồng nguyên”. Trong khoảng nửa thế kỷ, hàng ngàn đền thờ đã trở nên phổ biến trong tỉnh.32 Những thuyền nhân người Hoa đã phổ biến sự sùng bái “Tam giáo đồng nguyên” cho những cộng đồng dân cư đồng hương ở vùng Đông Nam Á, nơi nó phát huy các ảnh hưởng địa phương.33 Một trong những nơi này là Đại Việt, bao gồm cả xứ Đàng Trong.

Khi hình thức mới của Tam giáo phát triển, Phật giáo Thiền tông trải qua một cuộc phục hưng, qua đó những người ủng hộ đã đề xuất tầm nhìn mới cho sự tổng hợp tín ngưỡng, lồng ghép “Tam giáo đồng nguyên” với Tịnh Độ tông, do Thiền tông cầm trịch. Tính đại chúng của Thiền tông phục hưng lan truyền nhanh chóng ra khỏi miền nam Trung Hoa, bao gồm những trung tâm thành thị, nơi các thương nhân trên biển bảo trợ cho sự sùng bái “Tam giáo đồng nguyên” vẫn buôn bán. Ba thiền viện của Phật giáo Thiền tông ở miền nam Trung Hoa đã bành trướng ra nước ngoài, gồm Hoàng Bích, Lâm Tế và Tào Động – đều lớn mạnh thật sự và cam kết chặt chẽ đối với lý tưởng của “Tam giáo đồng nguyên”.

2.3. Hiện thân của “Tam giáo đồng nguyên”: Thiền sư Hương Hải

Xung lực bền bỉ này, biểu thị qua ý tưởng “Tam giáo đồng nguyên”, được thấy rõ qua tiểu sử của Thiền sư Minh Châu Hương Hải, người đã đến Đàng Trong trước sư Nguyên Thiều, và được coi là danh tăng yêu thích của triều đình chúa Nguyễn.34 Như rất nhiều danh sĩ ở Đàng Trong, gia tộc sư Hương Hải đến từ tỉnh Thanh Hóa ở Đàng Ngoài. Đây là một gia tộc có tiếng tăm từ lâu, với các thành viên từng là quan lại trong triều đình nhà Lê. Tuy nhiên, uy tín của gia tộc phần lớn bắt nguồn từ nghề đóng thuyền gia truyền, đặc biệt là đóng chiến thuyền. Một trong những vị tổ tiên làm nghề đóng thuyền của sư Hương Hải từng giong buồn xuống phía nam đến vùng đất Quảng Nam, nơi ông đóng thuyền cho Nguyễn Hoàng. Đổi lại, vị tổ tiên này đã được nhận chức tước và đất đai, có lẽ ở vùng lân cận của Bình An, một ngôi làng ở phủ Thăng Hoa, cách Hội An vài cây số về phía nam.

Tiểu sử của sư Hương Hải đã vẽ nên bức chân dung của một nhà sư suốt đời ôm ấp lý tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Khi còn trẻ, người ta nói Hương Hải đã nổi danh trong việc học tập Nho giáo. Điều này gây sự chú ý của triều đình chúa Nguyễn, và vì vậy họ đã đề nghị học giả trẻ tuổi nắm giữ một chức quan khi ông mới 18 tuổi. Bảy năm sau, chúa Nguyễn Phúc Tần gửi vị quan trẻ này đến phủ Triệu Phong ở phía bắc Thuận Hóa (nay là tỉnh Quảng Trị). Trong thời gian ở đây, Hương Hải càng thêm quan tâm đối với Phật giáo và bắt đầu tu tập với Thiền sư Viên Cảnh tại chùa Viên Khoan. Không lâu sau, ông xin từ quan và gia nhập môn phái Trúc Lâm, do Phật hoàng Trần Nhân Tông, vị vua từ thế kỷ thứ XIII sáng lập. Sau đó, ông rời chùa Viên Khoan và bắt đầu một loạt các chuyến du thuyết giữa quê hương ông ở vùng ven biển Bình An và những hòn đảo ngoài khơi, bao gồm cả những thời gian sống dài ngày tại Cù Lao Chàm (Hội An) và Đại Lãnh (giữa Phú Yên và Khánh Hòa), hai trạm dừng quan trọng của các tàu thuyền. Lê Quý Đôn đã ghi lại rằng Hương Hải đã phải đối mặt với “những con quỷ đen to lớn” ở Đại Lãnh.35 Ông cũng được tán dương bởi khả năng chữa bệnh bằng phép thuật.36 Là một người thầy, sư Hương Hải cố gắng tích hợp các ý tưởng vốn khác biệt vào trong khuôn khổ “bất nhị nguyên” của Phật giáo Đại thừa, thay cho tất cả.37 Người ta nhận ra rằng khu rừng của Nho giáo thật bao la”, ông viết: “Khi người ta đi vào đó, mới thấy nó thật mênh mông và biển Phật luôn trong ta”.38

Trong một những chuyến du thuyết của ông, chúa Nguyễn Phúc Tần đã mời sư Hương Hải đến thủ phủ Kim Long để ông phục vụ triều đình với vai trò là vị cố vấn của hoàng gia. Suốt những năm ở đây, ông đã cho xây chùa Vinh Hòa nằm trên ngọn núi gần cửa biển Tư Dung, cách cảng Thanh Hà không xa. Thế nhưng vào năm 1682, sư Hương Hải cùng 50 đệ tử của ông đột nhiên trốn chạy, đến ẩn náu ở một nơi nào đó khá xa về phía nam của Đàng Trong. Tin tức lan đến Đàng Ngoài. Chúa Trịnh Tạc thấy ngay cơ hội và đã nắm bắt nó. Ông cử người liên lạc vào Đàng Trong tìm Thiền sư Hương Hải để trao cho ông một bức thư đặt vấn đề: “Liệu nhà sư có nên trở ra Đàng Ngoài?”. Hương Hải đã quyết định rằng ông sẽ đi, và họ lại giong buồm lần nữa. Nhà sư cập bến ở Nghệ An, và quân lính của chúa Trịnh đã hộ tống ông đến kinh đô Thăng Long. Chúa Trịnh giao cho sư Hương Hải một ngôi chùa và đất đai. Sư Hương Hải đã vẽ cho vị chúa mới của mình tấm bản đồ mới của xứ Đàng Trong. Ông sống ở Thăng Long đến năm 1715, khi ông cáo lão về thiền viện Nguyệt Đường, nơi ông dạy học cho đến khi qua đời ở tuổi 88.39

Đặc trưng “Tam giáo đồng nguyên” này cũng phổ biến trong các tường trình về các nhà sư di cư vào Đàng Trong. Trong lời mở đầu cho cuốn Hải ngoại kỷ sự của Thích Đại Sán, một văn nhân người Quảng Châu đã ca ngợi Thích Đại Sán vì đã “tổng hợp sự tinh tế của ba giáo lý vào chung một gia đình”. 40 Lời khen tặng như vậy dành cho chủ thuyết Tam giáo là rất phổ biến trong các giáo lý của Thiền tông.41

2.4. Truyền thừa, tài sản và mở rộng mạng lưới

Tác động lớn nhất của Thiền tông phục hưng có lẽ là tính chính thể, nhờ vào phương pháp truyền thừa sư phụ – đệ tử mà sự phục hưng được truyền cảm hứng. Nó xuất hiện ở Trung Hoa, dẫn đến phương pháp mới để xác định thẩm quyền và tài sản thu được, xúc tác cho việc mở rộng các chùa chiền ở nước ngoài.42 Các Thiền viện hướng đến truyền thừa như một cách thức để bảo đảm cho sự ổn định thể chế bằng cách tạo ra một phương pháp khách quan để xác định thẩm quyền phân cấp trong cộng đồng tu sĩ của họ. Với sự truyền thừa, họ đã tạo ra biên niên sử, chuyển giao sự giác ngộ của sư phụ cho người được lựa chọn để kế thừa, là một tiến trình thường được biết đến như sự truyền thừa dharma. Vào thế kỷ XVII, chỉ những vị sư sở hữu sự chứng nhận hợp pháp xác nhận được truyền thừa dharma mới có thể trở thành trụ trì ở Thiền viện. Thực tế là, những trụ trì này, như những người coi sóc các “Thiền viện truyền giáo”, thường cai quản một mạng lưới tài sản của Thiền viện hơn là chỉ một ngôi chùa riêng lẻ. Một vài mạng lưới chùa chiền mở rộng về quy mô, và các cộng đồng Thiền viện thường cạnh tranh để có thêm nhiều tài sản và tín đồ. Lời hứa mở rộng tăng nhân và tài sản thu hút những nhà sư nước ngoài. Có lẽ họ thấy đây là một cơ hội để giải quyết gánh nặng thuế mà triều đình nhà Thanh đã đặt lên các nhà truyền giáo ở ven biển trong suốt quá trình chiến tranh với nhà Trịnh ở Đài Loan.43 Với sự phát triển này, tài sản của các dòng truyền thừa tăng nhanh, và sự khuyến khích thay đổi cách truyền thừa để gia tăng quyền lực theo đó cũng tăng lên.

Sự phục hưng của Thiền tông ở Trung Hoa đã mở ra cánh cửa cho sự truyền giáo và xây dựng chính thể ở nước ngoài. Điều này trực tiếp đặt Phật giáo vào trạng thái hoạt động tích cực nhất về thương mại và xã hội ven biển của người Hoa. Thông qua người bảo trợ là những thương gia, sứ mệnh này cũng đưa cho các nhà sư một con đường ngắn suốt giai đoạn cuối thế kỷ XVII để tiếp cận được tới cơ cấu quyền lực chính trị ở những vùng đất xa xôi bên ngoài. Như chúng ta sẽ thấy, Phật giáo cung cấp cho tín đồ một phương tiện về tư tưởng để hòa nhập tín ngưỡng bản địa vào một mạng lưới lớn hơn của chùa chiền trong các cộng đồng ở hải ngoại và các nhà nước, nhờ vào chủ thuyết “Tam giáo đồng nguyên”. Khi nhà sư và những người theo Phật xây dựng chùa chiền, họ đã đặt những nền tảng thể chế vào trong vùng đất đó. Trong quá trình này, họ không chỉ chuyển hóa Thiền tông, mà còn chuyển hóa rất nhiều mặt khác của đời sống thế tục nữa.

Các thương gia đã thiết lập quá trình này nhờ vào máy móc. Sau đó, họ sở hữu tàu thuyền riêng của mình. Quá trình mở rộng chùa chiền ở nước ngoài bắt đầu bằng việc các thương gia vận chuyển vật liệu đến những nơi đó. Rồi, các nhà sư và các thương gia cùng nhau xây dựng chùa chiền ở hải ngoại.

Chú thích phần 1

  1. Chẳng hạn, xem: Avner Greif et al., “Coordination, Commitment, and Enforcement: the Case of the Merchant Guild” (Phối hợp, cam kết và thực thi: trường hợp hội quán của thương gia), Journal of Political Economy 102.4 (1994): 751, 758-62.
  2. Ý tưởng về “lợi ích chung và cạnh tranh” xuất phát từ John Middleton, “Merchant: an essay in historical ethnography” (Thương nhân: một khảo cứu trong dân tộc học lịch sử), Journal of the Royal Anthropological Istitute, Economy 9, 2003, 510-7.
  3. Avner Cohen, “Cultural Strategies in the Organization of Trading Diasporas” (Chiến lược văn hóa trong tổ chức của thương mại hải ngoại), The Development of Indiegenous Trade and Markets in West Africa, Claude Meillassoux biên tập (London, 1971), 226-8.
  4. Wheeler, “Missionary Buddhism in a Post-Ancient World: Monks, Merchants and Colonial Expansion in Seventeenth-Century Cochinchina (Vietnam)” (Nhà truyền đạo Phật giáo trong thế giới cổ đại: nhà sư, thương gia và việc mở rộng thuộc địa ở Đàng Trong (Việt Nam) vào thế kỷ XVII,) Secondary Cities and Urban Networking in the Indian Ocean Realm c. 1400-1800, Kenneth R. Hall biên tập (Lexington Books, 2008), 207.

Những học giả đầu tiên nhận thức vềsự suy giảm của Phật giáo vào giai đoạn cuối triều Đường Trung Quốc. Sau đó nó len lỏi vào triều Tống. Tansen Sen gần đây cho rằng nó đã kéo dài đến cuối triều Nguyên thế kỷ XIV; xem: Buddhism, Diplomacy, and Trade: The Realignment of Sino-Indian Relations, 600-1400 (Honolulu, University of Hawaii Press, 2003), 211-35. Điều này đã bắt đầu được làm rõ trong luận án của Jiang Wu và cuốn sách gần đây nhất của ông: Orthodoxy now Enlightenment in Dispute: The Reinvention of Chan Buddhism in Seventeenth-Century China (New York: Oxford University Press, 2008).

  1. Để biết thêm về lịch sử Giao Chỉ và Giao Châu, xem: Taylor, Birth of Vietnam (Sự ra đời của Việt Nam).
  2. Suốt thời kỳ “Con đường tơ lụa”, Đôn Hoàng luôn hoạt động như trung tâm của hoạt động thương mại trên “Con đường tơ lụa”ở biên giới của đế quốc Trung Hoa và một trung tâm nổi tiếng về hoạt động Phật giáo. Về thương mại ở Giao Chỉ, xem: Li Tana, “Jiaozhi in the Han Period Tongking Gulf” (Giao Chỉ trong thời kỳ nhà Hán ở vịnh Bắc Bộ”, The Tonking Gulf through History, Nola Cooke et al. biên tập, (University of Pennsylvania Press, 2011), 39-52.
  3. Cuong Tu Nguyen, Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thien uyen tap anh (Thiền trong thời kỳ trung đại ở Việt Nam: một nghiên cứu và dịch thuật Thiền uyển tập anh) (Honolulu, University of Hawaii Press, 1997), 9-13 (xem 12-3), 331-9 (xem 336-7).
  4. Sau đó, ông giong buồm về phía bắc để tiếp tục công việc truyền giáo và dịch thuật ở những nơi khác của đế quốc Hán đang sụp đổ. Xem: Erik Zurcher, The Buddhist Conquest of China (Cuộc chinh phục của Phật giáo Trung Hoa) (Leiden: Brill, 1972), 51-5; Edouard Chavannes, “Seng-Houei,” T’oung Pao 10 (1909): 199-212; Thích Thiện Ân, 29-30.

Trung tâm đặt tại Samarkand, với các thuộc địa vệ tinh khắp châu Á, Sogdians từng là một trong những nhóm thương gia thành công nhất vào thời kỳ “Con đường tơ lụa”. Họ cũng đóng vai trò quan trọng trong sự truyền giáo của Phật giáo ra bên ngoài Ấn Độ và việc dịch các kinh kệ Phật giáo ra các ngôn ngữ khác, bao gồm tiếng Hán. Mariko Namba Walter, “Sogdians and Buddhism,” Sino-Platonic Papers, 174 (November 2006): 23-6.

  1. Thích Thiện Ân, 52-71; Cuong Tu Nguyen, 43-8, 105-7.
  2. Cuong Tu Nguyen, 174-6.
  3. Như đã được chỉ ra trong bài dịch thuật và nghiên cứu xuất sắc của Cuong Tu Nguyen. Xem, chẳng hạn: 56-99, 69-9, và chuyện của La Quý, 79-80.
  4. Keith W. Taylor, “Authority and Legitimacy in 11th Century Vietnam” (Thẩm quyền và tính hợp pháp ở Việt Nam thế kỷ XI), Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries Đông Nam Á từ thế kỷ IX đến thế kỷ XIV, David Marr and A.C. Milner biên tập, (Singapore, 1986), 140.
  5. John K. Whitmore, “Rise of the Coast” (Sự lên ngôi của vùng duyên hải), 107.
  6. Mặc dù điều này vẫn chưa được chỉ ra một cách thuyết phục, mô hình trở nên rõ ràng hơn như một tích lũy nghiên cứu mới. Xem, chẳng hạn: Shiro Momoki, “Dai Viet and the South China Sea Trade: from the 10th to the 15th Century” (Đại Việt và thương mại trên biển Đông từ thế kỷ X đến thế kỷ XV),  Crossroads: An Interdisciplinary Journal of Southeast Asian Studies, 12.1 (1998): 15; James A. Anderson, “Slipping through Holes: The Late Tenth- and Early Eleventh-Century Sino-Vietnamese Coastal Frontier as a Subaltern Trade Network,” (Trượt qua các lỗ hổng: Biên giới trên biển giữa Trung Hoa – Việt Nam cuối thế kỷ X và đầu thế kỷ XI như một mạng thương mại sơ cấp, The Tongking Gulf through History, 87-100.
  7. “The Early Kingdoms” (Vương quốc buổi sơ khai), The Cambridge History of South East Asia, vol. 1, pt. 1: “From Early Times to c. 1500”, Nicholas Tarling (NXB Đại học Cambridge1999), 139; Zen in Medieval Vietnam: A Study and Translation of the Thien uyen tap anh (Thiền trong thời kỳ trung đại ở Việt Nam: một nghiên cứu và dịch thuật Thiền uyển tập anh) (Honolulu, University of Hawaii Press, 1997) 9-21.
  8. Mus, “Buddhism in Vietnamese History and Society” (Phật giáo trong lịch sử và xã hội Việt Nam), tJahrbuch des Südasien- Instituts der Universität Heidelberg 2 (1967/68): 95-115, xem 98-9; một trích yếu của “Traditions anciennes et bouddhisme moderne” (Truyền thống cổ xưa và Phật giáo hiện đại), Eranos Jahrbuch 32 (1968): 161-275.
  9. Taylor, “The Early Kingdoms” (Vương quốc buổi sơ khai) 139.
  10. Whitmore, “Religion and Ritual in Courts of Dai Viet” (Tôn giáo và nghi lễ trong các triều đình Đại Việt), ARI Working Paper Series, 128 (2009).
  11. Cuong Tu Nguyen, 111
  12. Thích Thiện Ân, 108-49; Cuong Tu Nguyen, 20-1
  13. Mus, 98-9, 110. Sự sắp xếp của phát triển Phật giáo và sự sụp đổ vào thế kỷ XV của Phật giáo khỏi chính trị Đại Việt được mô tả trong Nguyễn Thế Anh, “From Indra to Maitreya: Buddhist Influence in Vietnamese Political Thought” (Từ Indra đến Maitreya: Ảnh hưởng của Phật giáo đến tư tưởng chính trị Việt Nam), Journal of Southeast Asian Studies, 33.2: 234-7. Vic Lieberman tóm lượt bài trên trong “Neo-Confucian revolution” đã vứt bỏ Phật tử khỏi quyền lực chính thức; Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830 (Cambridge University Press), 377-83.
  14. Xem, chẳng hạn: Ian Mabbet, “Buddhism in Champa” (Phật Giáo ở Champa), Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, David Marr và A.C. Milner biên tập (Singapore, 1986), 306; Pierre-Yves Manguin, “The Introduction of Islam into Campa” (Giới thiệu về Đạo Hồi xâm nhập vào Champa), Robert Nicholl dịch, Journal of the Malaysian Branch of the Royal Asiatic Society 58 (1985): 6.
  15. Dương Văn An, Ô Châu cận lục, 1555, Bản dịch quốc ngữ (Sài Gòn, 1962), 69-71. Một trong những nơi này bao gồm Thiên Mụ, ngôi chùa được chúa Nguyễn trùng tu năm 1602 (70).
  16. Nguyen Thế Anh, “The Vietnamization of the Cham Deity Po Nagar” (Quá trình Việt hóa vị thần Po Nagar của người Chăm), Essays on Vietnamese Pasts, Keith W. Taylor và John K. Whitmore biên tập (Ithaca: Southeast Asia Program, Cornell Univresity, 1995), 42-50.
  17. Nguyễn Hiền Đức, 11-15
  18. Nola Cooke, “The Myth of the Restoration: Dang-trong Influences in the Spiritual Life of the Early Nguyen Dynasty (1802-1847)” (Huyền thoại về sự khôi phục: Ảnh hưởng của Đàng Trong lên đời sống tâm linh giai đoạn đầu triều Nguyễn (1802-1847), The Last Stand of Autonomous States in Asia, Anthony Reid biên tập (London: Macmillan, 1997) 279.

Cần 1 dẫn chứng trong bản sớm hơn của chủ đề này liên quan đến các nhà sư người Hoa ở Đàng Trong, xem: Gaspardonne, “Bonzes des Ming réfugiés,” 17.

Để có mô tả chung về chủ đề này, xem: Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt, 217-44; Li, Nguyen Cochinchina (Họ Nguyễn ở Đàng Trong) 99-116; Nola Cooke, “Myth of the Restoration” (Huyền thoại về sự khôi phục) 279-80; Lieberman, Strange Parallels (Sự song hành kỳ lạ) 406-19.

  1. Li, Nguyen Cochinchina (Họ Nguyễn ở Đàng Trong) 109; Cooke, “Myth of the Restoration” (Huyền thoại về sự khôi phục) 279.
  2. Li, Nguyen Cochinchina (Họ Nguyễn ở Đàng Trong) 101-2. Sớm hơn, Cadière đã chú ý rằng trong suốt nửa cuối thế kỷ XVII, các chúa Nguyễn đã theo đuổi hoạt động bảo trợ Phật giáo ngày một tăng. “Phật giáo hưởng lợi từ ơn huệ liên tục của các nhà cai trị họ Nguyễn.” Cadière, Religion 3.
  3. L. Cadière, “Mémoire de Bénigne Vachet sur la Cochinchine” (Hồi ký của Bénigne Vachet về Đàng Trong), Bulletin de la Commission archéologique de l’Indochine 1 (1913): 44, tái bản hồi ký của Vachet.
  4. Cuong Tu Nguyen, 71-5
  5. Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt (Westminster, California: Văn Nghệ, 1989).
  6. Để có miêu tả về nguồn gốc, sự phát triển và pha trộn của sự sùng bái, xem: Kenneth Dean, , Lord of the Three in One: The Spread of a Cult in Southeast China (Vị thần của Tam giáo đồng nguyên: Sự lan rộng của sùng bái ở đông nam Trung Hoa) (Princeton: Princeton University Press, 1998) 16-27, 44-55, 58-60, 125-36. Ảnh hưởng rộng lớn hơn của khuôn mẫu Tam giáo đã tác động đến miền nam Trung Hoa thế kỷ XVII. Xem: Timothy Brook, “Rethinking Syncretism: The Unity of Their Joint Worship in Late Imperial China” (Xem xét lại về sự pha trộn: Sự thống nhất của việc thờ cúng chúng trong Đế quốc Trung Hoa giai đoạn cuối), Journal of Chinese Religions, 21 (Mùa thu 1993): 13-26.
  7. Wolfgang Franke, “Some Remarks on the ‘Three in One Doctrine’ and Its Manifestations in Singapore and Malaysia” (Một vài điểm chú ý ở ‘Học thuyết Tam giáo đồng nguyên’ và biểu hiện của nó ở Singapore và Malaysia”, Sino-Malaysiana: Selected Papers on Ming and Qing history and on the Overseas Chinese in Southeast Asia, 1942-1988 (Singapore: South Seas Society, 1989), 343-377.
  8. Trừ khi được ghi chú khác, các nguồn về Hương Hải trích dẫn từ những văn bản sau: Minh Chi, Phật giáo ở Việt Nam, 151-7; Nguyễn Lang, 127-33
  9. Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, Bản dịch (Hà Nội: Khoa học xã hội, 1977), 403.
  10. Minh Chi, 157-8; Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, 403.
  11. Nguyễn Hiền Đức, 57.
  12. Minh Chi, 157-8.
  13. Minh Chi, 151-3. Để biết thêm nghiên cứu về Hương Hải, xem: Nguyễn Hiền Đức, 1: 49-81.
  14. “Mao Duanzhi’s preface” (Lời nói đầu của Mao Duanzhi), HWJS (Bắc Kinh) 7.

Xem thêm lời tựa số 14 trong tuyển tập thơ của Đại Sơn, ca ngợi khả năng diễn giải Thiền của Đại Sơn qua thơ (Yi shi yan chan), và Tập đại thành (ji da cheng) của Khổng giáo, Phật giáo và Lão giáo. Shilian Dashan, Liliu tang ji (Kangxi 38 [1699]). Cám ơn Wu P’ei-yi đã cung cấp cho tôi bản sao của văn bản này.

  1. Các ví dụ về Tam giáo xuất hiện ở những nơi ít được trông đợi nhất. Xem xét trường hợp Chu Thuấn Thủy, một người trung thành với nhà Minh được ghi nhận với việc làm sống lại Khổng giáo Nhật Bản. Nhật ký của ông về những năm ông sống ở Đàng Trong, An Nam cung dịch kỷ sự, giống với các cuộc biểu đạt tư tưởng dày đặc biểu trưng cho lòng trung thành của một chư hầu mà mọi người trong hồi ký của ông đều đi qua như một biếm họa trong những câu chuyện cường điệu Mencian. Tác giả được lựa chọn cho lời bạt duy nhất của cuốn sách (không có lời kết) tán dương Chu, người giữ vững sự công bằng của mình và cư xử với nhân phẩm ở Đàng Trong. Ông so sánh các học giả Khổng giáo với Tô Vũ, nhà ngoại giao của triều Hán, người đã từ chối đầu hàng trước một vị vua du mục. Dẫn lời Mạnh Tử, ông đã hỏi một cách ẩn dụ rằng “Khi một người khác biệt những người khác bằng việc không biết xấu hổ, vậy người đó có gì giống với những người khác nữa”. Tác giả, Dai Mongong, gặp Chu Thuấn Thủy năm 1653, khi hai ông làm khách tại nhà Chen Mingle ở Nagasaki, bốn năm sau khi Chu viết cuốn sách về chuyến đi của mình. Năm đó, một thiền sư người Hoa tên là Ẩn Nguyên (Ingen) đến Nagasaki, làm khách trong khu người Hoa (xem bên dưới). Một năm sau đó, Dai trở thành đệ tử của nhà sư, lấy tên Duli Xingyi. Ba năm sau, nhà sư đã viết lời ca ngợi của ông về sự thẳng thắn của Chu. Chu trở thành người ủng hộ mạnh mẽ Phật giáo, như lời mở đầu và lá thư của sư Duli cho sư phụ Ẩn Nguyên đã cho thấy. Chu và Ẩn Nguyên có người bạn chung là Wei Zhiyuan, một thương gia trên biển, người làm việc và sinh sống ở Nagasaki, Phúc Thanh và Hội An. Wei và Ẩn Nguyên đều đến từ Phúc Thanh. Wei và Chu sống ở Đàng Trong vào cùng thời điểm. Wei đã giúp tổ chức chuyến đi của Ẩn Nguyên đến Nagasaki. Cả Wei và Chu đều không phản đối sự cam kết của Ẩn Nguyên hay nhà sư Hoàng Bích nào về việc tu tập Đạo lão (Baroni, Obaku, 119-20). Tam giáo đã cùng tồn tại tốt đẹp với nhau trong thế giới đi biển này.
  2. Trừ khi được ghi chú khác, Wu Jiang, “Orthodoxy” 21-22, 27, 55, 134, 136-7, 318.
  3. T’ien Ju-k’ang, “The Decadence of Buddhist Temples,” (Sự suy thoái của các ngôi chùa Phật giáo), Development and Decline of Fukien Province in the 17th and 18th Centuries, Edouard Vermeer chủ biên (Leiden: Brill, 1990) 95-6.
Đăng tải tại Câu chuyện lịch sử | 2 phản hồi

CHẤM VÀ VẠCH TRONG BIỂN ĐÔNG: NHÌN NHẬN TỪ LUẬT CHỨNG CỨ BẢN ĐỒ (Dots and Lines in the South China Sea: Insights from the Law of Map Evidence)

 

Erik FRANCKX* và Marco BENATAR**

(Đại họcVrije Brussel, Bỉ)

Ngày 07.5.2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) phản đối đệ trình của Việt Nam và đệ trình chung của Malaysia – Việt Nam gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS). Để hậu thuẫn cho các yêu sách của mình, Trung Quốc (TQ) đã kèm một bản đồ có vẽ một đường hình chữ U nhiều chấm bao trùm phần lớn Biển Đông vào công hàm phản đối. Sau phần trình bày ngắn gọn về nguồn gốc đường chữ U, bài viết này tập trung giải mã lời lẽ của công hàm phản kháng kèm bản đồ chữ U đó, đồng thời nêu lên một số cách diễn giải khả dĩ cho đường này. Bài viết này lập luận rằng bản đồ đó có giá trị chứng minh đáng ngờ dưới ánh sáng của nhiều yếu tố bổ sung trong các án lệ quốc tế về chứng cứ bản đồ. Các tác giả cũng tập trung vào các phản ứng của các nước bên thứ ba đối với đường chữ U. Bài viết này cho rằng sự phản đối hiệu quả từ các nước trong khu vực đã và đang ngăn ngừa không cho bản đồ này trở thành điều trở ngại đối với họ.

Nổ lực của các nước trong việc củng cố kiểm soát và thẩm quyền đối với các vùng đảo hầu như đều được thể hiện bằng việc tấn công vào những tài liệu bản đồ. Một mặt, các bản đồ được vẽ cẩn thận có thể là chìa khóa trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế, cho thấy ý định của các bên và cung cấp các dữ liệu địa lý chính xác. Mặt khác, quá hăm hở viện dẫn các bản đồ là nguy hiểm, vì “giống như thống kê, bản đồ có thể ‘nói dối’”.[1]

Tranh chấp đối với các thể địa lý biển ở biển Đông[2] không là ngoại lệ. Các nước có tranh chấp ở Đông Nam Á đã thu thập đầy rẫy tài liệu bản đồ với chất liệu và chất lượng kỹ thuật khác nhau để hậu thuẫn cho các yêu sách của họ. Một bản đồ gần đây đã xuất hiện lại ở cấp độ quốc tế và gây chuyện khá ồn ào là bản đồ biển Đông chính thức của TQ có vẽ “đường 9 chấm” hoặc “đường chữ U” bí ẩn.[3]  Một sự tái khẳng định mạnh mẽ tài liệu này ở cấp độ nhà nước-đối với-nhà nước gợi ra một loạt các câu hỏi như về nguồn gốc của nó, nó muốn nói điều gì, và, cuối cùng, nó có giá trị gì trong các tranh chấp biển đang diễn ra.

Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra một phân tích về mặt pháp lý quốc tế bản đồ nói trên. Bài viết bắt đầu với một thảo luận ngắn gọn về lịch sử của bản đồ này và một số diễn biến có liên quan gần đây. Tiếp theo là lượng định giá trị pháp lý của những cách giải thích khác nhau (và tại những thời điểm thay đổi) về đường chữ U. Chúng tôi dùng các lập luận rút ra chủ yếu từ luật biển để chứng tỏ rằng những tuyên bố của TQ liên hệ tới đường 9 chấm đang gây tranh cãi là một vấn đề về luật quốc tế. Sau đó, trọng tâm sẽ quay vào các án lệ có liên quan đến bằng chứng bản đồ. Các yếu tố có nguồn gốc từ bộ phận các án lệ này dẫn chúng ta đi đến kết luận rằng bản đồ đó trong mọi khả năng có thể chỉ được coi là có sức chứng minh khá yếu trước tòa. Cuối cùng, chúng tôi sẽ chứng tỏ rằng ngay cả khi bản đồ đó có ý nghĩa về mặt pháp lý thì nó cũng không thể sử dụng để chống lại các bên có liên quan khác trong tranh chấp nhờ vào các phản kháng có hiệu quả của họ.

I. BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC

a. Nền tảng

Nguồn gốc của đường chữ U bắt đầu từ các hoạt động của Uỷ ban thẩm tra Bản đồ Đất và Nước của Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), thành lập vào năm 1933. Trách nhiệm của Uỷ ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên các đảo ở Biển Đông và in ra các bản đồ cho thấy các đảo này thuộc chủ quyền của TQ. [4]

Đường nhiều chấm được chuẩn nhận chính thức đầu tiên phát xuất từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tờ bản đồ đang bàn do Sở lãnh thổ và Ranh giới Bộ Nội vụ THDQ in ra vào tháng 12 năm 1946.[5]  Trên bản đồ này, đường chữ U gồm 11 vạch liên tục bao kín phần lớn biển Đông và các thể địa lý (feature) giữa đại dương.[6]  Bắt đầu từ ranh giới Trung-Việt, hai vạch đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ. Vạch thứ ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng. Vạch thứ năm và thứ sáu trên đường đứt đoạn đi qua Bãi cạn James (4° N), thể địa lý biển cực nam mà TQ và THDQ tuyên bố chủ quyền. Di chuyển theo hướng đông bắc, hai vạch tiếp theo nằm giữa quần đảo Trường Sa  và Borneo (Indonesia, Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan). Vạch thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines với THDQ.[7] Sau khi loại Quốc dân Đảng khỏi Trung Hoa đại lục, CHNDTH cũng phát hành bản đồ vẽ với cùng các vạch trên.[8] Như vậy, từ đó trở đi, ở hai phía của eo biển Đài Loan đều thấy có bản đồ đường chữ U xuất hiện. Một trong những thay đổi đặc biệt cần lưu ý: từ năm 1953 TQ chỉ vẽ 9 thay vì 11 vạch (2 vạch ở Vịnh Bắc Bộ đã bị xoá) trong bản đồ biển Đông.[9]

b. Công hàm TQ gửi Tổng thư ký LHQ (ngày 07.5.2009)

Ở cấp độ quốc tế, tranh cãi xung quanh đường 9 chấm đã rộ lên trước Liên Hợp Quốc (LHQ) vào năm 2009 liên quan tới đệ trình chung của Malaysia – Việt nam[10] và đệ trình riêng của Việt Nam[11] cho CLCS. CLCS đưa ra khuyến nghị cho các nước ven biển có nhu cầu xác lập ranh giới bên ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (nm).[12] Thời gian đệ trình của các chính phủ Việt Nam và Malaysia có thể giải thích là do thời hạn chót của họ là vào tháng 5 năm 2009.[13] Để đáp trả các đệ trình này, trong cùng một ngày TQ đã chính thức gửi Tổng thư ký LHQ hai công hàm riêng biệt có kèm bản đồ đó[14], qua đó lần đầu tiên xác nhận đường chữ U, ở cấp quốc tế trong một tranh chấp giữa nhà nước đối với nhà nước,[15] với phản ứng giống hệt nhau sau đây: “TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển Hoa Nam và các vùng biển liền kề, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất dưới biển (xem bản đồ kèm theo). Lập trường nêu trên đượcChính phủ TQ nhất quán thể hiện, và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi”.[16]

Đọc Công hàm này, một học giả Đài Bắc suy ra một số khẳng định của TQ:

  1. Chủ quyềnđối với các đảo ở biển Đông và vùng biển tiếp giáp chúng (bản đồ kèm theo cho thấy các thể địa lý biển sau đây trong đường đứt khúc: quần đảo Tây Sa,[17] quần đảo Nam Sa,[18] quần đảo Trung Sa,[19] và quần đảo Đông Sa[20]).
  2. Quyền chủ quyền và quyền tài phánđối với vùng biển liên quan bao gồm đáy biển và tầng đất dưới đáy biển của chúng.
  3. Tính nhất quáncủa vị thế chính thức của TQ về các yêu sách biển và lãnh thổ ở biển Đông.
  4. Sự nhận biết(Knowledge) của các nước bên thứ ba liên quan đến yêu sách của TQ về biển và lãnh thổ ở biển Đông.
  5. Đường chữ U mô tảnhững yêu sách của TQ về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán.[21]

Tuy nhiên, dường như công bằng để nói rằng giải thích chính thức của TQ trích dẫn trên, theo như ý nghĩa chính xác của bản đồ đính kèm, quá lắm vẫn còn mơ hồ. Cụ thể, bản chất pháp lý chính xác của các khu vực biển bao bọc bởi đường 9-chấm-vẫn còn mờ mịt, mặc dù có việc “làm rõ” của TQ. Điểu này được thể hiện rõ ràng bởi các phản ứng khá khác nhau mà họ tung ra tại các hội nghị chuyên ngành được tổ chức kể từ đó. [22]

Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay chỉ có một nước là Philippines thực hiện nỗ lực diễn giải.[23] TQ nhanh chóng trả lời với một công hàm mới, một lần nữa công hàm này chẳng làm được gì nhiều trong việc làm cho rõ ràng hơn. Trong công hàm mới này, đề ngày 14.4.2011, TQ nêu rằng “chủ quyền và các quyền và quyền tài phán liên quan của TQ trong Biển Đông” được hậu thuẫn bằng “chứng cứ lịch sử và pháp lý phong phú”.[24] Điều rõ ràng trong tài liệu ngoại giao mới này là không có bất kỳ đề cập nào tới bản đồ trên. Từ sự thiếu vắng đó, chúng ta có thể suy ra về sự từ bỏ đường 9 chấm hay không? Chắc chắn một sự thay đổi thái độ (volte-face) như thế không thể được giả định một cách hời hợt. Hơn nữa, dù họ đang chủ trương làm dịu đi các quan ngại về tự do hàng hải ở biển Đông,[25]  nhiều trường hợp can thiệp gần đây của TQ đối với tàu thuyền Việt Nam và Philippines, cùng với những điều khác nữa, dường như hàm ý rằng các yêu sách quá đáng của họ như minh hoạ trên bản đồ vẫn còn nguyên vẹn.

II. CÁC YÊU SÁCH

Công hàm ngày 07.5.2009 của TQ, dù là có thể mới trong các khía cạnh vể biển nhưng chỉ lặp lại những khẳng định tương tự như đã đưa ra trong quá khứ liên quan đến các thể địa lý.[26] Hơn nữa, nhiều học giả chủ chốt của TQ và Đài Loan đã đề ra các cách giải thích riêng của họ về đường 9 chấm. Giữa sự rối rắm này, người ta chỉ có thể chắc chắn một điều là các khẳng định TQ về biển Đông không vượt quá ranh giới này.[27] Những quan điểm và giá trị pháp lý của các khẳng định này sẽ được thảo luận sau đây.

a. Yêu sách lịch sử

1. Thực hành Nhà nước (State practice)

Mặc dù các khẳng định kiểu này dường như không là nét đặc biệt trong chính sách chính thức của TQ, Đài Bắc có truyền thống ủng hộ khá mạnh lập trường này đối với đường chữ U, như có thể thấy trong một loạt các tuyên bố. Ví dụ, trong năm 1991 tại một trong những Hội thảo về biển Đông, một đại diện Văn phòng Kinh tế và Thương mại Đài Bắc ở Jakarta (Indonesia) tuyên bố: “Biển Hoa Nam là một vùng nước thuộc thẩm quyền của THDQ. THDQ có quyền và đặc quyền trong biển Hoa Nam. Bất kỳ hoạt động nào trong biển Hoa Nam phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ”.[28]

Hướng dẫn Chính sách cho biển Đông năm 1993 (chuẩn nhận bởi Bộ trưởng Hành chánh) lưu ý rằng: “Trên cơ sở lịch sử, địa lý, luật pháp quốc tế, và nhiều sự kiện, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Macclesfield, và quần đảo Pratas luôn là phần lãnh thổ cố hữu của THDQ. Chủ quyền của nước THDQ đối với chúng không còn chút nghi ngờ nào. Khu vực biển Hoa Nam trong ranh giới vùng nước lịch sử là khu vực biển thuộc thẩm quyền của nước THDQ, THDQ sở hữu tất cả các quyền và lợi ích trong đó”.[29]

Năm 1994, Bộ trưởng Bộ Hành chánh, Trương Kim Ngọc (Chang King-yu), nói rằng “các vùng biển được bao bọc bởi đường chữ U ở biển Hoa Nam là vùng nước lịch sử của chúng ta và THDQ được hưởng tất cả các quyền trong đó” (nhấn mạnh thêm).[30]

Chính sách của Đài Bắc được suy luận xa hơn từ các phản đối đã thực hiện chống lại cách ứng xử của các nước ven biển trong khu vực. Đáp trả với việc Malaysia chiếm đóng hai thể địa lý tại quần đảo Trường Sa và việc Philippines quyết định sáp nhập bãi cát ngầm Scarborough trên bản đồ của họ, Đài Bắc tuyên bố: “Biển Hoa Nam là một vùng nước của THDQ. THDQ có tất cả các quyền và đặc quyền trong vùng biển Hoa NamBất kỳ hoạt động nào (kể cả việc thảo luận về hợp tác chung hoặc Quy tắc ứng xử, vv) trong biển Hoa Nam phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ”. (nhấn mạnh thêm) [31]

Một số chuyên gia đã cóp nhặt nhiều lập luận pháp lý cho tuyên bố mong manh này.[32]  Ví dụ, Triệu Quốc Tài (Guocai Zhao) nhận xét: “TQ sở hữu quyền lịch sử các đảo, đá ngầm, bãi cát ngầm, các bãi cạn, và các vùng nước trong đường 9 chấm. Biển Hoa Nam được coi là vùng nước lịch sử của TQ, điều đó được thừa nhận phổ quát vào thời điểm đó. Điều này cho đến nay đã kéo dài nửa thế kỷ”.[33]

2. Phân tích pháp lý

Việc xem xét các bài viết học thuật về các tuyên bố lịch sử liên quan đến các khu vực biển làm phát sinh rất nhiều nhầm lẫn về thuật ngữ. Các khái niệm thích hợp như quyền lịch sử / sở hữu lịch sử, các vùng nước lịch sử, và vịnh lịch sử không dễ dàng phân biệt và làm sáng tỏ.[34] Để tránh việc tìm hiểu kéo dài không cần thiết và phần nào thừa thãi về sự khác biệt giữa các quyền lịch sử và sở hữu lịch sử, chỉ cần nói rằng “quyền lịch sử” là chủng (genus) mà theo đó người ta có thể đặt các loại (species) “vùng nước lịch sử” vào. Tương tự, “vịnh lịch sử” là một loại “vùng nước lịch sử”.[35] Trong bối cảnh của đường 9 chấm, cách ứng xử của Đài Bắc dường như bao hàm sự công nhận các vùng nước lịch sử liên quan đến một phần chủ yếu của biển Đông.

Không có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về các vùng nước lịch sử, nhưng theo cách hiểu rộng rãi, nó biểu thị các quyền trao thêm cho một nước ven biển đối với một hoặc nhiều khu vực biển mà nước đó bình thường sẽ không được hưởng. Phạm vi các quyền đi cùng với vùng nước lịch sử có thể khác nhau đáng kể. Các điều kiện pháp lý cho việc thụ đắc các vùng nước lịch sử đã được xem xét trong một nghiên cứu năm 1962 do Văn phòng Ban thư ký Liên Hợp Quốc của Vụ Pháp chế (OLA) thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban pháp luật quốc tế.[36] Theo quan điểm của OLA: “Có vẻ có một sự nhất trí khá phổ biến rằng khi xác định liệu một nước có quyền sở hữu lịch sử đối với một khu vực biển hay không thì phải xem xét tới ít nhất ba yếu tố. Những yếu tố này là: (1) việc thực thi thẩm quyền của nước yêu sách quyền lịch sử đối với khu vực đó (2) tính liên tục của việc thực thi thẩm quyền (3) thái độ của các nước khác”.[37]

Đài Bắc lẫn TQ đều không đáp ứng các tiêu chí này cho vấn đề đó. Điều kiện (1) và (2) đòi hỏi nước có yêu sách phải thực thi thẩm quyền thông qua các hành vi thể hiện chủ quyền ở mức đủ thường xuyên và có hiệu quả. Liên quan tới khu vực họ yêu sách, việc thể hiện thẩm quyền của họ cùng lắm chỉ có thể nói là ở mức không thường xuyên. Việc tự do đánh bắt và đi lại của các nước khác vẫn không bị cản trở.[38] Do đó, không yêu sách lịch sử nào có thể thực hiện ở đây. Các đòi hỏi lý thuyết cần để thoả mãn điều kiện (3) là không chắc chắn. Về cơ bản, việc thảo luận xoay quanh vấn đề liệu các nước khác có cần phải ngầm bằng lòng với việc thực hiện chủ quyền của TQ trên biển Đông hay liệu việc họ không có bất kỳ phản ứng nào là đủ hay không.[39] Nhưng dù theo quan điểm nào, cả hai dường như đều đồng ý rằng sự phản đối của các nước khác có thể ngăn chặn việc thực thi chủ quyền hòa bình và liên tục, và điều này đích xác là những gì đã xảy ra đối với biển Đông (xem phần IV-B).

Một số người đã vặn lại rằng tuyên bố chủ quyền phải được xem xét dưới ánh sáng của các quy tắc của luật quốc tế đã tồn tại khi bản đồ đường chữ U được vẽ ra, tức là năm 1946 (cái gọi là học thuyết của luật đương thời [intertemporal law: sự tồn tại của một quyền phải được xác định dựa trên luật lệ của thời điểm mà quyền đó được tạo ra – ND]).[40] Điều này là khá khác thường, vì cách tiếp cận này chỉ làm yếu thêm một luận điểm vốn đã không thuyết phục. Vào thời điểm đó, bề rộng của lãnh hải hợp pháp chỉ là 3 hải lý, khiến cho các yêu sách lịch sử càng thêm quá đáng hơn.[41] Với thực tế rằng các vùng nước lịch sử thường liên quan đến vịnh hoặc một dải lãnh hải,[42] do đó không có gì ngạc nhiên khi nhận thấy một chuyên luận gần đây về vùng nước lịch sử không thấy cần thiết để đề cập tới yêu sách lịch sử của đường 9 chấm.[43] Hơn nữa, ngay cả khi vì mục đích lập luận người ta nhắm tới giả thuyết cho rằng TQ có thể thực hiện một yêu sách lịch sử lớn chưa từng có (cái không có – quod non) thì cũng nên nhớ rằng các yêu sách lịch sử không tạo ra một chế độ liên quan tới mọi nước (erga omnes), mà là phụ thuộc vào sự công nhận tường minh hay hàm ý trên cơ sở nước-đối với- nước như một tác giả mới đây đã nhấn mạnh.[44]

Một lưu ý cuối cùng, việc sử dụng cách gọi “Biển Hoa Nam” không có ý trao chủ quyền lịch sử cho TQ.[45] Theo luật pháp quốc tế, việc đặt tên đơn thuần một khu vực không thiết lập chủ quyền đối với khu vực đó.[46] Tên này đã bị các quốc gia có liên quan phản đối mạnh mẽ, trong đó có Việt Nam.[47] Bản đồ nước ngoài dùng tên Biển Hoa Nam chỉ đơn giản là để phù hợp với cách gọi tên do Tổ chức Thủy văn Quốc tế về Ranh giới các Đại dương và biển công bố (1953), cách gọi tên đó “không có bất kỳ ý nghĩa chính trị nào”.[48] Vì thế, về phía các nước phương Tây, việc lựa chọn từ ngữ này không có hàm ý nhìn nhận chủ quyền của TQ. Ngoài ra, về mặt lịch sử người TQ cũng dùng nhiều tên gọi khác nhau cho vùng biển này như là “Biển Giao Chỉ” (đời Tống và Minh) và “Biển Nam” (đời Thanh (1905), THDQ (1913) và CHNDTH (1952 và 1975)).[49]

3. Những diễn biến mới

Những diễn biến gần đây có thể làm cho sự thảo luận dễ dàng hơn. Thật vậy, rất có thể là Đài Bắc đang từ bỏ luận điểm lâu dài của họ. Các tuyên bố trong những năm gần đây gợi cho thấy một sự thay đổi trong quan điểm của họ, đưa chính sách của Đài Loan về vấn đề này cùng hướng với chính sách của TQ. Việc đề cập tới quyền / vùng nước lịch sử vắng đi trong khi trọng tâm dường như là chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và lãnh hải.[50] Ví dụ gần đây nhất là tuyên bố hồi tháng 5.2009 phản đối các hồ sơ của Việt Nam và Malaysia – Việt Nam gửi cho CLCS: “Chính phủ THDQ nhắc lại rằng quần đảo Điếu Ngư (Diaoyu), quần đảo Nam Sa (Trường Sa), quần đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Macclesfield) và quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) cũng như các vùng biển xung quanh là cácvùng lãnh thổ và các vùng biển cố hữu của THDQ dựa trên các quyền sở hữu chủ quyền không thể chối cãi biện minh bằng các cơ sở lịch sử, địa lý và luật quốc tế. Theo luật quốc tế, THDQ được hưởng tất cả các quyền và lợi ích đối với các quần đảo nói trên, cũng như các vùng biển xung quanh và đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng”.[51]

b. Các yêu sách đảo

1. Cách giải thích 1: Tất cả các thể địa lý trong đường chữ U là lãnh thổ Đài Bắc/TQ

Người đề xuất trước nhất cách giải thích yêu sách lãnh thổ này, nhà ngoại giao Indonesia Hasji Djalal, trong khi thừa nhận tính chất “khó hiểu” của đường chữ U, đã nêu các tìm hiểu của mình dựa trên việc phân tích cẩn thận các tuyên bố của TQ, đặc biệt là những tuyên bố hình thành trong cuộc họp của Tổ chức Hàng không dân dụng (ICAO) quốc tế năm 1979.[52]

Smith ghi nhận rằng các thể địa lý giữa đại dương nằm bên trong “các vạch phân bổ này” là những thể địa lý mà TQ tuyên bố chủ quyền. Ông nhấn mạnh rằng các dấu vạch này không gợi ra bất kỳ yêu sách ranh giới biển nào và sẽ không có chút tác động nào đối với việc giải quyết tranh chấp biên giới biển.[53]

Dzurek cũng tin rằng đường chữ U không phân ranh các biên giới thuộc thẩm quyền trên biển của TQ, và sự tin tưởng này dựa trên một lập luận về bản đồ học, cụ thể là, việc các dấu vạch chia cắt Malaysia và quần đảo Natuna đi chệch khỏi đường phân giới thềm lục địa mà Indonesia-Malaysia đã thoả thuận.[54]

Như đã nói ở trên, việc thực hành nhà nước hiện nay của Đài Bắc dường như chứng minh một sự chuyển đổi về phía vị thế này.

Câu hỏi tinh tế về các đảo trong biển Đông thuộc nước nào, đòi hỏi phải phân tích nghiêm ngặt một loạt (matrix) sự kiện phức tạp và ứng dụng các khái niệm pháp lý đa dạng (chẳng hạn như phát hiệnngày tới hạn [ngày mà các hành động của các bên liên quan thực hiện sau ngày đó sẽ không được toà xét đến – ND], và tính hiệu quả), sẽ đưa chúng ta quá xa khỏi chủ đề hiện tại.[55] Với điều này trong trí, có lẽ thích hợp để nhấn mạnh ở đây rằng bản đồ TQ không thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ hợp lệ đối với các đảo cho từng bản đồ. Trong vụ Burkina Faso/Mali, Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) đưa ra lời giải thích “dứt khoát”[56] về giá trị chứng cứ của bằng chứng bản đồ: “Các bản đồ chỉ đơn thuần tạo thành thông tin, chúng thay đổi về tính chính xác theo từng trường hợp; và bằng sự tồn tại của một mình chúng, chúng không thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ, nghĩa là, một tài liệu được luật quốc tế phú cho hiệu lực pháp lý nội tại cho mục đích xác lập các quyền lãnh thổ. Tất nhiên, trong một số trường hợp, bản đồ có thể có được hiệu lực pháp luật như vậy, nhưng trong những trường hợp như thế hiệu lực pháp luật không phát sinh duy nhất từ giá trị nội tại của chúng mà chính vì do bản đồ đó thuộc về loại biểu hiện thực tế (physical expression) ý muốn của một nước hoặc các nước có liên quan. Ví dụ, trường hợp khi các bản đồ được kèm theo một văn bản chính thức mà chúng là một phần không thể thiếu của văn bản đó. Ngoại trừ trường hợp xác định rõ ràng này, các bản đồ chỉ là bằng chứng bên ngoài có độ tin cậy khác nhau hay không đáng tin cậy, chúng có thể được sử dụng, cùng với các bằng chứng khác loại gián tiếp, để thiết lập hoặc tái thiết lại các sự kiện thật”.[57]

Ý kiến nhân tiện (obiter dictum) này đã được trích dẫn một cách đồng tình trong một loạt các trường hợp tranh cãi.[58] Một số người đã đọc đoạn văn này như một bác bỏ “dứt khoát” đối với khái niệm về quyền sở hữu theo bản đồ.[59] Trong mọi trường hợp, Tòa án dường như còn để mở một cửa sổ nhỏ[60] (“các bản đồ … kèm theo một văn bản chính thức mà chúng tạo thành một phần không thể thiếu’”) đề cập đến những công cụ như các hiệp ước[61] và do đó không áp dụng được trong trường hợp này.

2. Cách giải thích 2: Đường chữ U là đường ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được tạo ra từ các đảo ở biển Đông

Một số học giả TQ dường như ủng hộ thuyết này, mặc dù lý luận của họ hơi khác nhau và thường liên kết với thuyết về các quyền / vùng biển lịch sử. Triệu Lý Hải (Zhao Lihai) viết: “Đường chín chấm chỉ rõ lãnh thổ và chủ quyền của TQ đối với bốn quần đảo trong biển Hoa Nam và khẳng định ranh giới biển của các đảo của TQ ở biển Hoa Nam mà các đảo này đã được bao gồm trong phạm vi TQ ít nhất từ thế kỷ 15. Tất cả các đảo và các vùng nước liền kề trong đường biên giới phải thuộc thẩm quyền và kiểm soát của TQ”.[62]

Kiều Vĩnh Khoa (Jiao Yongke) nêu: “Các khu vực nước bên trong đường biên giới ở biển Hoa Nam tạo thành các vùng nước mà TQ có quyền sở hữu lịch sử đối với chúng, chúngtạo thành vùng đặc quyền kinh tế đặc biệt, hay vùng đặc quyền kinh tế lịch sử của TQ, do đó phải có địa vị tương tự như vùng đặc quyền kinh tế theo các quy định của UNCLOS [Công ước LHQ về Luật Biển]”.[63]

Cuối cùng, Trâu Khoa Uyển (Zou Keyuan) tin rằng TQ đã khẳng định một tuyên bố lịch sử, nhưng tuyên bố này là “tương đương với tình trạng pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa”.[64]

Cách giải thích thứ hai này về các vạch đứt đoạn đó phụ thuộc hoàn toàn vào cách đầu tiên. Nó suy từ nguyên tắc “đất thống trị biển” mà cách tiếp cận này nhất thiết phải dựa trên tiền đề là TQ có chủ quyền đối với các thể địa lý ở Biển Đông.[65] Những người ủng hộ thuyết này xem đường chữ U như một ranh giới trên biển nối vào các ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phát sinh từ các đảo. Một loạt các câu hỏi nẩy lên. Vấn đề gai góc đầu tiên liên quan đến việc phân định vùng biển đó. Suy cho cùng, một nước ven biển không thể chỉ đơn giản áp đặt việc phân giới lên các nước khác một cách đơn phương. Sự hợp lệ của hành động như vậy sẽ phụ thuộc vào sự tuân thủ các chuẩn mực luật pháp quốc tế.[66]

Hơn nữa, còn có vấn đề là các thể địa lý biển có thể tạo ra được các khu vực biển (bất chấp ai là chủ sở hữu hợp pháp) hay không? Tất cả phụ thuộc vào việc thể địa lý đó có hội đủ điều kiện là đảo theo nghĩa pháp lý hay không. Công ước LHQ về Luật Biển 1982[67] có chứa một điều khoản cho mục đích này, Điều 121, nêu như sau:

  1. Đảo là một khu đất hình thành tự nhiên, với nước bao bọc xung quanh, nằm bên trên mặt nước khi triều cao.
  2. Ngoại trừ như quy định tại mục 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một đảo được xác định theo quy định của Công ước này áp dụng cho lãnh thổ đất liền khác.
  3. Đảo đá (rock) không thể duy trì sự cư trú của con người hay có đời sống kinh tế của riêng mình sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.[68]

Do đó, các bề mặt có phủ đất trong vùng Biển Đông sẽ tạo ra thêm các vùng đặc quyền kinh tế (và thềm lục địa) nếu chúng đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt nêu trên.[69] Do đó, tính chất đảo của một loạt các thể địa lý tại biển Đông đã bị rơi vào nghi vấn. Oude Elferink thận trọng nêu rằng “ít ra có một số đảo trong biển Đông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các thể địa lý có tính đảo khác gần như chắc chắn có thể được coi là rơi vào vòng khống chế của Điều 121 (3) [đảo đá].” [70] Nếu cuối cùng biết ra rằng những bề mặt phủ đất đó không phải là đảo, (ít nhất là một phần) thì cách giải thích vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của đường chữ U là không có giá trị pháp lý.

Về mặt này, rất đáng để đề cập ngắn gọn đến các bước do TQ mới thực hiện ở cấp độ quốc tế ủng hộ di sản chung của loài người bằng cách cố gắng bảo vệ khu vực này chống lại sự xâm nhập không chính đáng của một vài nước.[71] Về thực chất, các can thiệp này nhằm mục đích chống lại đệ trình của Nhật Bản cho CLCS vể đảo Okinotorishima ở Thái Bình Dương.[72] Tuy nhiên, hành động này ngay lập tức bị phản ứng ngược đối với biển Đông, Indonesia đã chất vấn đường 9 chấm của TQ ngay chính trên cơ sở các trình bày của nước này nêu ra trước cuộc họp của các nước thành viên năm 2009 cũng như trước Cơ quan quốc tế đáy biển, đó là, các đảo đá không thể duy trì sự cư trú của con người, đời sống kinh tế riêng không tạo ra một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.[73]

Dù các diễn biến có thể thú vị như thế nào, điều bắt buộc này, mà đúng hơn là việc điều tra nặng thực tế và kỹ thuật về tình trạng pháp lý chính xác của các thể địa lý khác nhau ở biển Đông theo Điều 121 (3) của Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 vượt quá xa phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.

III. CÁC YẾU TỐ LÀM SUY YẾU SỨC MẠNH CHỨNG MINH CỦA BẢN ĐỒ

Theo một quy tắc đã được ghi nhận,[74] các thẩm phán quốc tế được hưởng sự tự do đặc biệt rộng rãi trong việc xác định trọng lượng của tài liệu chứng cứ.[75] Cảnh giác về quyền tự do theo nguyên tắc này, chúng tôi đã xem xét các tiền lệ[76] liên quan đến bản đồ để suy ra các yếu tố[77] thường được thẩm phán hoặc trọng tài sử dụng để đánh giá hiệu lực chứng minh của bằng chứng bản đồ. Cần nhấn mạnh rằng trong khi làm như vậy, chúng tôi dựa vào các tiền lệ liên quan cho đất liền lẫn trên biển không phân biệt. Mặc dù đúng là các nguyên tắc quy định việc thụ đắc những vùng biển và phân giới biển khác biệt đáng kể so với những quy tắc làm cơ sở cho việc thụ đắc và phân giới lãnh thổ,[78] câu hỏi cốt yếu này (chế độ pháp luật áp dụng được) là tách biệt với câu hỏi về bằng chứng (các bản đồ). Hơn nữa, học thuyết dường như không có sự phân biệt có ý nghĩa giữa bản đồ đất liền và bản đồ biển trong việc phân loại các quy tắc bằng chứng, và ICJ đã trích dẫn các quy tắc pháp lý bổ sung trong các vụ trên đất liền khi đánh giá các bản đồ do các bên tham gia tranh chấp nộp vào có chứa một yếu tố liên quan đến biển.[79]

Các yếu tố sau đây chứng tỏ sự thiếu sót vốn có về chứng cứ của đường 9-chấm của TQ.

a. Cách tiếp cận thận trọng với chứng cứ bản đồ

Như một quan sát bước đầu, cần chỉ ra rằng xu hướng chung là các tòa và các toà án quốc tế không đưa ra các phán quyết chỉ đơn thuần dựa trên các kết luận về bản đồ.[80] Mặc dù những bản đồ chính xác phản ánh ý định của các bên có thể thực sự tạo thành “một cơ sở vững chắc và liên tục cho việc thảo luận”,  sự vắng mặt của chúng “là một sự bất tiện đáng tiếc”,[81] chúng thường sẽ đóng vai trò phụ trong việc làm vững thêm bằng chứng khác đi cùng hướng.[82]

Trở lại với quyết định cho vụ Burkina Faso/Cộng hòa Mali: “Các bản đồ vẫn không thể có giá trị pháp lý hơn so với giá trị của bằng chứng củng cố trong việc chuẩn nhận một kết luận mà một tòa án đi đến bằng các phương tiện khác không dính dáng tới các bản đồ, trừ khi các bản đồ thuộc loại biểu hiện thực tế ý chí của Nhà nước, tự chúng không thể được xem như là bằng chứng về một đường biên giới, vì trong trường hợp đó chúng sẽ hình thành một giả định không thể bác bỏ, thật sự đồng nghĩa với quyền sở hữu pháp lý. Giá trị duy nhất mà chúng có là bằng chứng thuộc loại phụ hoặc khẳng định thêm, và điều này cũng có nghĩa rằng chúng không thể được gán cho đặc tính của một giả định không thể bác bỏ (juris tantum) như là để thực hiện một sự đảo ngược trách nhiệm chứng minh.”[83]

Lập trường thận trọng này đã được phát hiện và ghi nhận qua ý kiến học thuật có thẩm quyền,[84] và trong một số trường hợp đã được đông đảo chấp thuận.[85]

b. Các bản đồ không tương thích nhau

Khi trình bày các khẳng định mâu thuẫn lẫn nhau thì sắp xếp các sự kiện cho thẳng thớm đòi hỏi cố gắng lớn.[86] Khá tương tự như vậy, khi các tài liệu bản đồ mâu thuẫn với nhau, chúng sẽ mất đi sự tin cậy.[87] Như ICJ đã nêu trong trường hợp Kasikili/Sedudu: “dưới ánh sáng của sự không chắc chắn và không thống nhất của tài liệu bản đồ được đệ trình, Tòa tự thấy mình không thể rút ra kết luận từ những bằng chứng bản đồ đưa ra trong trường hợp này”.[88]

Các bản đồ với đường 9 chấm vẽ ra một hình ảnh biển Đông khác biệt với bằng chứng bản đồ và các tài liệu khác của các nước ven biển trong khu vực. Sẽ khó khăn để đạt được một sự hiểu biết chính xác ranh giới biển và chính trị chỉ dựa trên việc đặt các bản đồ kế bên nhau. Ngoài ra, các điều mà đường chữ U thể hiện cũng không nhất quán. Như đã đề cập ở trên, đường chữ U trong bản đồ ở TQ trước năm 1953 bình thường gồm có 11 vạch,[89] trong khi các phiên bản sau này đường nhiều chấm chỉ gồm 9 đoạn. Một bản đồ điện tử trực tuyến gần đây của Cục Khảo sát và Bản đồ Nhà nước TQ ngày 21.10.2010 lại thêm một đoạn nữa vào phía Bắc giữa Đài Loan và nhóm Ryukyu, trong đó có đảo Yonaguni là hòn đảo ở cực tây, tất cả đều thuộc về Nhật Bản.[90] Không có lý do nào được đưa ra cho việc loại bỏ bí ẩn hai vạch trong quá khứ hay việc thêm vào vạch thứ 10 mới gần đây.[91]

c. Ký hiệu bản đồ rời rạc/nhập nhằng

Bản đồ không rõ ràng đã xuất hiện trong các tố tụng qua trọng tài trong quá khứ. Trong vụ Trọng tài Eritrea / Yemen, Eritrea đã nộp các bản đồ mô tả một đường chấm chấm hỗ trợ yêu sách của mình. Tòa án đưa ra một tuyên bố ngắn về phương pháp chứng cứ của bên liên quan: “Trong một số trường hợp Tòa án có thể không đồng ý với đặc tính của các bản đồ mà bên đưa ra mong muốn. Hơn nữa, nếu không có chỉ dẫn cụ thể từ chính bản đồ, Tòa án không muốn gán ý nghĩa cho các đường chấm chấm thay cho màu sắc hoặc thay cho việc ghi địa danh trên bản đồ. Các kết luận trên cơ sở này do Eritrea thúc hối liên quan tới một số bản đồ của họ không được chấp nhận.”[92]

Đương nhiên, có sự tương tự của trường hợp này với đường chữ U, sự thiếu vắng một chú giải (legend), và lời lẽ bí ẩn soạn sẵn chứa trong công hàm của TQ gửi Tổng thư ký LHQ. Sự lúng túng càng lớn hơn bởi vì cách mô tả của đường 9 chấm sai lệch với các tiêu chuẩn vẽ bản đồ quốc tế được Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra đích xác cho mục đích về tính rõ ràng.[93] Cần nhớ rằng TQ cũng là một thành viên của tổ chức quốc tế này.[94]

d. Ý định không rõ ràng

Như Thẩm phán Oda đã chỉ ra một cách đúng đắn trong ý kiến riêng của ông trong vụ Kasikili / Sedudu, một tuyên bố lãnh thổ chỉ có thể được thực hiện với dấu hiệu rõ ràng về ý định của chính phủdấu hiệu đó có thể được phản ánh trong các bản đồ. Một bản đồ tự nó, nếu không có bằng chứng hậu thuẫn khác thì không thể biện minh cho một tuyên bố chính trị” (nhấn mạnh thêm).[95] Trong trường hợp này (in casu) tiêu chí về ý định rõ rệt về phía chính phủ TQ không được đáp ứng một cách thoả đáng. Sự đa dạng về cách giải thích đường chữ U do các học giả luật học đưa ra cũng như công hàm mơ hồ của TQ đề ngày 07.5.2009 là chứng cứ cho kết luận này. Bên cạnh các cấu trúc câu khó hiểu, các từ ngữ được sử dụng trong công hàm, cụ thể là “vùng biển có liên quan” (relevant waters) và “vùng biển liền kề” (adjacent waters) là đặc biệt khó hiểu vì chúng không xuất hiện bất cứ chỗ nào trong UNCLOS. Sự mơ hồ có vẻ như bị cố ý làm trầm trọng thêm, vì TQ vẫn chưa thông qua luật tạo cho đường chữ U bất kỳ hiệu lực trong trật tự luật pháp trong nước.[96] Ngay cả khi người ta có thể bới ra các ý định đằng sau bản đồ này, ý nghĩa pháp lý của chúng không nên được đánh giá cao. Trở lại bài viết nói trên của Thẩm phán Oda: “Một bản đồ được sản xuất bởi một cơ quan chính phủ có liên quan đôi khi có thể chỉ ra vị thế của chính phủ liên hệ đến lãnh thổ hay chủ quyền của một khu vực cụ thể hay đảo. Tuy nhiên, một mình sự kiện đó không có tính quyết định về tư cách pháp lý của khu vực hay đảo đang có vấn đề. Đường ranh giới trên những bản đồ như vậy có thể được hiểu như là thể hiện cho yêu sách tối đa của nước có liên quan, nhưng không nhất thiết biện minh cho yêu sách đó”.[97]

e. Thiếu tính trung lập

Khi bản đồ được vẽ lên bởi một chuyên gia khách quan, giá trị chứng minh của nó có xu hướng tăng lên.[98] Trái lại, các tài liệu bản đồ được sản xuất theo chỉ thị của một trong các bên tranh chấp sẽ được xét với sự nghi ngờ nhiều hơn, và do đó sự phụ thuộc vào tài liệu như vậy chỉ là ngoại lệ không phải là quy tắc.[99] Các trọng tài trong vụ Trọng tài kênh Beagle nhận xét như sau: “Trong khi các bản đồ đến từ các nguồn khác hơn những bản đồ của các bên không thuộc vụ đó được coi là nhất thiết phải chính xác hơn hoặc khách quan hơntrước nhất (prima facie) chúng có tình trạng độc lập, điều này có thể tạo cho chúng giá trị lớn trừ khi chúng chỉ là các bản sao chép của – hoặc dựa trên bản gốc xuất phát từ – các bản đồ do một trong các bên vẽ ra, hoặc giả được xuất bản trong một nước có liên quan, hoặc thay mặt cho, hoặc theo yêu cầu của một bên, hoặc rõ ràng có động cơ chính trị. Nhưng chỗ nào mà tư cách độc lập của chúng không để lộ cho việc nghi ngờ về một hoặc các cơ sở nêu trên, chúng có ý nghĩa tương đối cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ liên hệ trong đó chúng cho thấy sự tồn tại của một sự hiểu biết chung theo một nghĩa nào đó, như về cách giải quyết đó là gì, hoặc, chúng mâu thuẫn ở đâu, sự thiếu vắng của bất kỳ sự hiểu biết chung như vậy”.[100]

Việc thiếu tính trung lập là rõ rành rành đối với đường 9 chấm. Như đã thảo luận trong phần II-A, lịch sử của đường chữ U có thể được truy ngược về một ủy ban nội bộ do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thành lập để cập nhật các bản đồ TQ và tái khẳng định vị thế của họ. Một cơ quan chính phủ được thành lập và phân bổ nhân viên đơn phương như thế khó có thể được coi là khách quan đối với các nước có liên quan khác trong khu vực Biển Đông. Không nên quên rằng các nhà vẽ bản đồ có lương tâm vẫn có thể bị sử dụng cho các mục đích lừa đảo: “Một nhà làm bản đồ… có thể được sử dụng để biểu lộ khẳng định của một nước cụ thể như nước của chính ông ta về kích cỡ đầy đủ miền lãnh thổ của nước đó là gì, bất kể tính đúng đắn của khẳng định này và không có việc doạ dẫm rằng việc vẽ đó mô tả phạm vi của một yêu sách chứ không phải là vị trí của một ranh giới được chấp nhận. Qua việc sao chép tiếp theo và việc vẽ lại của các nhà làm bản đồ thiếu phối kiểm, không những các sai sót tiếp tục tồn tại mà sự kiện về việc lặp lại có xu hướng chuyển cho chúng sự thừa nhận pháp lý qua việc in ra một số lượng lớn bản đồ thống nhất với lời khai của họ”.[101]

f. Không chính xác về kỹ thuật

Trong tiểu luận về giá trị chứng cứ của bản đồ, De Visscher đưa ra các tiêu chuẩn sau đây: “những bảo đảm về tính chính xác nội tại của bản đồ … sự chính xác liên quan tới các điểm đang tranh chấp”.[102] Theo Brownlie, “giá trị chứng minh mà một bản đồ có tương ứng với chất lượng kỹ thuật của nó”.[103] Luật về án lệ cũng chỉ ra đòi hỏi độ chính xác kỹ thuật trong bản đồ.[104] Trong vụ đảo Palmas, trọng tài duy nhất Max Huber đã viết rằng: “điều kiện đầu tiên đòi hỏi của các bản đồ phục vụ với tư cách là bằng chứng đối với những điểm pháp lý là độ chính xác địa lý của chúng”.[105]

ICJ phát biểu rằng: “Trọng lượng thực tế được phân cho các bản đồ đem làm bằng chứng phụ thuộc vào một loạt các cân nhắc. Một số trong các cân nhắc này liên quan đến độ tin cậy kỹ thuật của các bản đồ. Điều này đã nâng lên đáng kể, đặc biệt là do những tiến bộ đạt được qua không ảnh và ảnh vệ tinh từ những năm 1950. Nhưng kết quả chỉ mang tới tính chất trung thực hơn cho bản đồ và sự ăn khớp ngày càng chính xác giữa bản đồ và không ảnh. Thông tin xuất phát từ sự can thiệp của con người, chẳng hạn như tên của các địa điểm và các thể địa lý (địa danh học) và việc miêu tả biên giới và ranh giới chính trị khác, do đó không trở nên đáng tin cậy hơn. Tất nhiên, độ tin cậy của các thông tin địa danh học cũng tăng lên nhở kiểm chứng thực địa, mặc dù ở mức độ thấp hơn, nhưng theo ý kiến của các nhà vẽ bản đồ, sai sót vẫn còn phổ biến trong biểu thị các đường biên giới, nhất là khi thể hiện các địa danh này này ở các khu vực biên giới khó tiếp cận”.[106]

Dưới ánh sáng của những quan điểm này, sự ra đời của công nghệ hiện đại có thể tăng truy đòi của các thẩm phán đối với bằng chứng bản đồ. Một trường hợp nổi bật về điểm này là ý kiến tư vấn của ICJ 2004 đối với bức tường của Israel, trong đó họ dựa (một phần) vào một bản đồ điện tử được đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Israel để xác định các tuyến đường hiện tại và tương lai của các bức tường trong vùng lãnh thổ Palestine.[107] Ngược lại, các bản đồ TQ không có vẻ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Mặc dù đường nhiều chấm của TQ thường đi theo đường đẳng sâu 200 mét (đường nối các điểm có độ sâu 200m với nhau), cho đến nay nó chưa bao giờ được phân ranh giới chính xác, do đó thiếu các toạ độ địa lý chính xác.[108] Ngoài ra, có vẻ có một số sự mâu thuẫn nhỏ giữa các tài liệu bản đồ biển của TQ: các điểm cuối của các vạch tạo nên đường chữ U thay đổi (độ khác biệt chạy từ 1 đến 5 hải lý).[109] Nhưng ngay cả vị trí của chính các vạch đôi khi có sai biệt rõ ràng với những vạch trên bản đồ ở Phụ lục I.[110] Hơn nữa, vì nó liên quan các đường trên biển, ảnh vệ tinh cũng không thật hữu ích.

Một yếu tố bổ sung góp phần vào tính không chính xác của bản đồ TQ là tỉ lệ của nó nhỏ quá mức. ICJ đã than phiền các bản đồ vẽ với tỉ lệ không đủ lớn. Một ví dụ điển hình có thể tìm thấy trong Tranh chấp đất, đảo và biên giới biển: “Honduras đã vẽ một bản đồ thứ hai, năm 1804, cho thấy vị trí của các giáo xứ của tỉnh San Miguel trong Tổng Giáo Phận Guatemala. Tuy nhiên, tỉ lệ của bản đồ này không đủ lớn để có thể xác định xem đoạn cuối của sông Goascoran là đoạn do El Salvador khẳng định, hoặc đoạn do Honduras khẳng định”.[111]

Các vấn đề tương tự cũng đã được trình bày trước tòa trọng tài. Ví dụ, Uỷ ban ranh giới Eritrea-Ethiopia cho rằng: “hơn nữa, nhiều bằng chứng về bản đồ theo một tỉ lệ quá nhỏ, hoặc quá thiếu chi tiết đến nỗi nó chỉ có thể được coi là mơ hồ trong lĩnh vực này.”[112]

Cuối cùng, cần lưu ý rằng các bản đồ TQ không chứa bất kỳ chỉ dấu nào về mốc quy chiếu (tức là một quy chiếu sử dụng trong trắc địa để đo đạc) được sử dụng, đó có vẻ là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá độ chính xác kỹ thuật của bất kỳ ranh giới biển nào.[113]

IV. BẢN ĐỒ KHÔNG BỊ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC PHẢN ĐỐI

a. Tiêu chuẩn áp dụng

Ngay cả khi ta chấp nhận rằng đường 9 chấm là một mô tả sai lầm của hiện thực thì điều đó không có nghĩa là nó có thể được gạt sang một bên ngay lập tức. Điều này đã được làm sáng tỏ trong vụ kênh Beagle: “tầm quan trọng của bản đồ có thể không nằm ở chính bản đồ mà trên lý thuyết nó có thể không chính xác mà ở thái độ biểu lộ – hoặc hành động thực hiện – đối với bản đồ đó của các bên liên quan hoặc của các đại diện chính thức của họ”.[114]

Các thẩm phán trong vụ Đền Preah Vihear đã rõ rệt hơn, gửi một tín hiệu cảnh báo rõ ràng về những ảnh hưởng tiềm năng của việc sơ suất trong khi đối mặt với sự quyết đoán về bản đồ: “Rõ ràng rằng các trường hợp như vậy đòi hỏi một phản ứng nào đó, về phía nhà chức trách Thái Lan trong một thời hạn hợp lý, nếu họ muốn tỏ sự không đồng ý với bản đồ hoặc nếu có bất kỳ câu hỏi nghiêm trọng nào phải nêu ra liên quan đến nó. Họ đã không làm như vậy, hoặc là sau đó hoặc trong nhiều năm, và do đó phải được xem là đã mặc nhận. Qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset (Ai im lặng thì dường như là đồng ý, nếu anh ta biết nói đáng lẽ anh ta đã phải nói)”.[115]

Một ví dụ của mối liên kết giữa bản đồ và sự mặc nhận được Ủy ban Ranh giới Eritrea-Ethiopia nêu lại gần đây: “một bản đồ có thể có chút trọng lượng pháp lý cho từng cái (per se): nhưng nếu bản đồ là thỏa đáng về mặt bản đồ học trong các khía cạnh có liên quan, nó có thể có vai trò là căn cứ thực tế, có ý nghĩa pháp lý cao, ví dụ như cho hành vi mặc nhận”.[116]

Tất nhiên, các kiểu cách thực tế của các vụ nêu trên là hoàn toàn khác biệt với trường hợp mà chúng ta đang phải đối mặt, tao ra tranh cãi về việc liệu các tiền lệ đó có thể áp dụng được ở đây hay không. Trong trường hợp này, chúng ta đang đối phó với một đường biên giới biển có mục đích xấu, việc hình thành nó, theo lời của ICJ, là “một vấn đề có tầm quan trọng lớn và việc thỏa thuận không phải là dễ dàng giả định trước”.[117] Hơn nữa, theo quan sát của Strupp: “Yêu sách hình chữ U lạ lùng này là quá bất thường và quá đáng vượt ngoài thực tế trong các thập niên từ 30 tới 60 đến nỗi không thể quan niệm được theo cách có “sự mặc nhận đối với yêu sách bản đồ” rằng một công nhận (ngầm) của cộng đồng nước ngoài về những tham vọng “cực kỳ bất thường”, bằng cách áp dụng quy tắc qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset hoặc quy tắc khác, lại có thể được nghiêm ngặt xem xét”.[118]

Strupp cũng nhận xét rằng: “Trong những trường hợp hoàn toàn quá đáng kiểu như “tuyên bố chủ quyền mặt trăng” của “đường chữ U” ở biển Đông rõ ràng không tồn tại một cơ sở hợp lý nào cả cho một độ “siêu nhạy cảm” to lớn về phía các nước phải đối mặt với các yêu sách bản đồ đối địch về mặt “mặc nhận”.[119]

Tuy nhiên, cần thận trọng khi áp dụng một phương pháp tiếp cận trung gian. Sau khi xem xét một bộ phận lớn về việc thực hành nhà nước, trong công trình có ảnh hưởng của ông về quyền sở hữu lịch sử, Blum đi đến kết luận sau đây: “Các trường hợp phản đối mới đây chống lại ‘yêu sách bản đồ’ dường như chỉ ra rằng các quốc gia, trên thực tế, ‘luôn giữ một cái nhìn cảnh giác đối với các bản đồ do các quốc gia văn minh xuất bản’ … Nói chung, có vẻ nổi lên rằng các nước sẽ bị đổ lỗi cho sự hiểu biết về các hoạt động lập pháp trong nước của nhau cũng như các hành vi khác được thực hiện theo thẩm quyền của họ, và lời biện hộ về sự không biết sẽ chỉ được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt nhất. Do đó, những nước mong muốn bảo toàn quyền của mình được khuyến cáo nên quan tâm theo dõi sâu sát các hành vi chính thức của các nước khác và đưa ra phản đối – thông qua các phương tiện hợp pháp được luật quốc tế công nhận – nếu họ cảm thấy rằng quyền của mình đã bị ảnh hưởng, hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi những hành vi đó”.[120]

b. Phản đối / Thiếu sự mặc nhận

Giả sử rằng triển vọng thừa nhận ngầm lồ lộ hiện ra, các nước ven biển được yêu cầu phải bày tỏ sự không chấp nhận chính sách đường chữ U và ý đồ cơ bản của TQ. Một số học giả TQ đã cáo buộc rằng buộc cộng đồng quốc tế đã không lên tiếng về sự bất đồng của mình để ngăn chặn việc củng cố tham vọng của TQ ở biển Đông: “Khi tuyên bố đường 9 điểm, cộng đồng quốc tế không lúc nào bày tỏ sự bất đồng ý kiến. Không nước lân cận nào đã đưa ra một phản đối ngoại giao. Im lặng khi đối mặt với một tuyên bố công khai có thể nói có nghĩa là mặc nhận, và có thể khẳng định rằng các đường chấm chấm đã được công nhận trong nửa thế kỷ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây một số nước Đông Nam Á, đã tham gia vào tranh chấp chủ quyền biển Hoa Nam, mới đặt ra câu hỏi về tình trạng pháp lý của đường 9 chấm”.[121]

Triệu Quốc Khải (Zhao Guocai) cho rằng: “Từ lúc tuyên bố đường 9 chấm, cộng đồng quốc tế vào thời điểm đó đã không đưa ra bất kỳ sự không bằng lòng nào. Các nước kề bên cũng không đưa ra bất kỳ phản đối ngoại giao nào đối với đường 9 chấm. Những điều này quy thành một sự mặc nhận”.[122]

Sự mặc nhận quốc tế này rất đáng ngờ.[123] Lấy Việt Nam như một trường hợp về điều này, chúng ta có thể thấy rằng hai phát biểu này là không thuyết phục. Các ví dụ bao gồm:

  1. Một phản đối đối với các đòi hỏi của TQ qua việc tuyên bố rằng rằng họ sẽ “không công nhận bất kỳ cái gọi là ‘lợi ích lịch sử’ nào, điều đó là không phù hợp với luật pháp quốc tế và vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong các khu vực biển và thềm lục địa của họ trong biển Đông”.[124]
  2. Một tuyên bố đáp trả công hàm của TQ năm 2009: “Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với các quần đảo này. Do đó, yêu sách của TQ đối với các đảo và vùng biển lân cận ở Biển Đông như thể hiện trong bản đồ kèm Công hàm CLM/17/2009 và CLM/18/2009 là không có cơ sở pháp lý, lịch sử, thực tế, do đó là không có giá trị và vô hiệu”.[125]
  3. Một yêu cầu loại bỏ dữ liệu khỏi dịch vụ bản đồ trực tuyến của TQ mô tả đường chữ U (nêu trên) trong hai dịp.[126]
  4. Các phản kháng gần đây chống lại sự can thiệp của TQ với tàu thuyền Việt Nam, trong đó tính hợp pháp của đường 9 chấm rõ ràng bị bác bỏ.[127]
  5. Nhân dịp buổi họp cuối cùng của các nước thành viên UNCLOS, Việt Nam đã nhắc lại phản đối của mình đối với đường 9 chấm theo mục 14 của Chương trình nghị sự.[128]

Cách ứng xử như vậy phải tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cần thiết để làm các hành vi phản đối thấm đầy hiệu lực pháp lí khiến cho đường chữ U không thể được sử dụng để chống lại nước phản đối. Tuy nhiên, có vẻ như không khả thi khi áp dụng các tiêu chí này cho các phản kháng trước đây đối với đường chữ U trong điều kiện vị thế mơ hồ của TQ đối với bản đồ và những gì nó thực sự muốn nói. Xét cho cùng, chỉ có thể hành động bằng cách phản đối một khi nước đối lập đã thực hiện một tuyên bố chính thức và dễ hiểu. Ý tưởng này được phản ánh trong khái niệm về “trạng thái rõ ràng” (notoriety) của hành động hoặc sự kiện đang có vấn đề.[129] Chúng tôi đã bàn bạc chi tiết các đặc điểm bí ẩn của đường 9 chấm và những ảnh hưởng về ý định không rõ ràng về phía TQ. Vì vậy, chỉ có thể phản đối đối với những khẳng định thấy được và dễ hiểu về đường chữ U trong các trường hợp hiếm hoi mà chúng xảy ra (ví dụ, công hàm TQ gửi cho Tổng Thư ký LHQ năm 2009). Theo thời gian, các tiêu chí theo sau dựa trên các tiêu chí trước trước đây. Theo lập luận (Arguendo) nếu tính rõ ràng của đường-9-chấm đã được xác lập thì bản chất của sự mặc nhận như thế có xu hướng được chấp nhận chỉ sau một thời gian dài thụ động.[130] Ví dụ dễ thấy là các vụ tranh chấp về Đánh bắt cá và Quyền đi qua trên Lãnh thổ Ấn Độ trong đó ICJ suy ra sự mặc nhận từ trên 60 và 125 năm im lặng, tương ứng.[131] Đòi hỏi về ý định rõ ràng cũng đã được hoàn thành trong các tuyên bố của Việt Nam rõ ràng nhằm mục đích ngăn chặn cái đòi hỏi trở thành quyền lợi pháp lý mới của TQ. Ngoài ra, tiêu chí rằng phản đối phải nhất quán và không bị gián đoạn có thể nói là đã được tuân thủ, như minh họa của nội dung của các ghi chú nói về phản đối.[132]

KẾT LUẬN

Trong bài viết, chúng tôi đã cố khám phá một số những điều không chắc chắn về pháp lý che đậy các vạch trên bản đồ biển Đông của TQ. Phân tích của chúng tôi đã đưa đến kết luận rằng đường chữ U, cho dù được giải thích như là một thể hiện lãnh thổ hoặc biển, rõ ràng thiếu tính chính xác, và do đó đặt ra nhiều vấn đề nếu vẫn giữ như là một phần của chính sách chính thức của TQ cũng như của Đài Loan. Nếu bộ phận đáng kể luật các án lệ là điều phải đi theo, bản đồ thể hiện với đường 9 chấm sẽ không có giá trị như là tài liệu chứng cứ trong một vụ xử giả định. Trong khi có thể thấy rằng một số người nhìn ra một xu hướng mới nổi lên tạo ảnh hưởng cho sự dễ dãi đối với bản đồ,[133] chúng tôi cho rằng các luận điệu như vậy là khá vội vã. Các bản đồ không phải là các bản đồ kèm theo các hiệp ước quốc tế sẽ bị tiếp nhận với sự thận trọng dễ hiểu và sẽ được đánh giá theo chức năng xứng hợp của chúng vẫn là điều không thay đổi.

Nhưng có một vấn đề cơ bản hơn ở đây. Duy trì một tuyên bố đơn phương trong một khoảng thời gian kéo dài mà không xem xét tới quyền lợi của các bên quan tâm khác là đồng nghĩa với việc áp đặt một việc đã rồi (fait accompli). Điều này sẽ vuột mất đi khi đối mặt với luật quốc tế, luật này ngăn không cho các nước mạnh yêu sách “giành phần trọn” (lion’s share) gây thiệt hại cho các nước láng giềng yếu hơn.[134] Việc bám chặt vào đường 9 chấm cũng là lỡ nhịp với chế độ về chính phủ hiện tại,[135] bao gồm các hội thảo[136] và (đề xuất) hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học.[137] Một giải pháp thực dụng khá thịnh hành trong những năm qua là tìm cách đạt được sự phát triển chung các tài nguyên. Điều này dính dáng tới việc gác các tranh chấp lãnh thổ và biển sang một bên và ký kết các thỏa thuận tạm thời “mà không làm ảnh hưởng” đến kết quả phân định cuối cùng.[138] May mắn thay, TQ, Đài Bắc, và các diễn viên khác trong khu vực đã sử dụng các cơ chế đa phương này và tiếp tục làm như vậy một cách hiệu quả. Chúng tôi hy vọng rằng các nước có tranh chấp từ bỏ các khẳng định cực kỳ quyết đoán về mặt bản đồ và lo tập trung năng lượng của họ vào các kết quả các bên cùng có lợi liên quan đến biển Đông trên cơ sở UNCLOS.

Người dịch: Phan Văn Song

Hiệu đính: Lê Trung Tĩnh

PHỤ LỤC I

image001

Bản đồ đường chữ U (9 đoạn) kèm theo hai nguồn sau đây: CHNDTH, Công hàm gửi Tổng Thư Ký LHQ, New York, 7/5/2009 CML/17/2009, có tại:www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf; và CHNDTH, Công hàm gửi Tổng Thư Ký LHQ, New York, 7/5/2009 CML/18/2009, có tại: http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf.

PHỤ LỤC II

image002

Hình chụp lại đường chữ U (10 đoạn) từ: Chinese State Bureau of Surveying and Mapping, Map World, có tại: http://www.chinaonmap.cn

VỀ CÁC TÁC GIẢ

* Erik FRANCKX là Giáo sư nghiên cứu, Chủ tịch Khoa Luật quốc tế và châu Âu , Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế, Đại học Vrije Brussel; Thành viên thường trực của Toà trọng tài (Court of Arbitration). Nội dung của bài báo được chuẩn bị cho Hội thảo quốc tế lần thứ 2 với chủ đề “Biển Đông: Hợp tác vì An Ninh và Phát triển khu vực” (The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development) do Học viện Ngoại giao và Hội Luật gia Việt Nam tổ chức ngày10–12/11/2010, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.

Bài báo này là phiên bản qua duyệt lại của bài viết “Dotted Lines in the South China Sea: Fishing for (Legal) Clarity” trình bày tại Hội thảo đó.

** Marco BENATAR là Nghiên cứu sinh Tiến sĩ, Quỹ Nghiên cứu Flanders (FWO). Thành viên của Khoa Luật quốc tế và châu Âu và Trung tâm Luật quốc tế, Đại học Vrije Brussel.

CHÚ THÍCH

[1] Keith HIGHET, “Evidence, the Court, and the Nicaragua Case” (1987) 81 American Journal of International Law 1 trang 19.

[2] Việc sử dụng thuật ngữ “Biển Hoa Nam (South China Sea)” thay vì chẳng hạn “Biển  Đông” (East Sea) khi nhìn theo quan điểm Việt Nam (xem chú thích 47) hay “Biển Tây Philippines” (West Philippines Sea) (xem Philippines, “DFA Releases”, online: Department of Foreign Affairs http://dfa.gov.ph/main/index.php/newsroom/dfa-releases (several statements since June 2011)) không có bất kỳ hàm ý pháp lý nào về quyền được hưởng đối với vùng biển hay các thể địa lý. Xem Erik FRANCKX, Marco BENATAR, Nkeiru JOE, and Koen VAN DEN BOSSCHE, “The Naming of Maritime Features Viewed from an International Law Perspective” (2011) 11 China Oceans Law Review 1 trang 39–40 (in English) and 69 (in Chinese). Điều tương tự cũng áp dụng đối với việc đặt tên các thể địa lý đảo nằm trong các vùng nước, thường nhận các tên khác nhau trong các ngôn ngữ khác nhau của các nước xung quanh khu vực. Do sự vắng mặt của bất kỳ ý nghĩa pháp lý nào, bài viết này sử dụng cách gọi tên cụ thể thường gặp trong tiếng Anh. Chỉ khi chính nguồn tự nó sử dụng một cách gọi tên khác, tên sau này sẽ được sử dụng với tên dịch tiếng Anh trong ngoặc.

[3] Mặc dù đôi khi được gọi là ‘đường yêu sách lịch sử’, cách gọi đặc trưng này nên tránh. Hầu hết các thuật ngữ TQ sử dụng để mô tả đường này không có chứa từ “lịch sử” theo tiếng Trung. Daniel J. DZUREK, “The Spratly Islands Dispute: Who’s on First?” (1996) 2(1) Maritime Briefing (International Boundaries Research Unit, Durham University) trang 11.

[4] LI Jinming and LI Dexia, “The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note” (2003) 34 Ocean Development and International Law 287 trang 289. Trong một công hàm gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tuyên bố rằng “kể từ [sic] năm 1930, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra công khai nhiều lần [sic] phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc và tên các thành phần của nó”, nhưng họ không đề cập đến các hoạt động bản đồ. Vì vậy, trong khi điều này có thể có nghĩa là Trung Quốc chính thức chuẩn nhận các hoạt động đặt tên của Ủy ban, không thể suy ra các bản đồ cũng được chuẩn nhận. Xem CHNDTH, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/8/2011” (14 April 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.

[5] Zou Keyuan đề cập đến sự tồn tại của một đường ở Biển Đông có sớm hơn được nhà vẽ bản đồ TQ Hu Jinjie (Hồ Tấn Tiếp) vẽ vào năm 1914 và tiếp theo vào những năm 1920 và năm 1930. Đường như vậy cũng có thể tìm thấy trong một số tập bản đồ từ thời kỳ này. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng:

  1. Những phiên bản sớm hơn này có trước bản đồ chính thức đầu tiên mô tả “đường chữ U”.
  2. Các tập bản đồ nói trên đã được biên soạn bởi các cá nhân, do đó hành động theo khả năng cá nhân của họ.
    Xem ZOU Keyuan, “The Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea and its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute over the Spratly Islands” (1999) 14 International Journal of Marine and Coastal Law 27 trang 32–33.

[6] In lại trong HU Nien-Tsu Alfred, “South China Sea: Troubled Waters or a Sea of Opportunity?” (2010) 41 Ocean Development and International Law 203 trang 208.

[7] WANG Kuan-Hsiung, “The ROC’s Maritime Claims and Practices with Special Reference to the South China Sea” (2010) 41 Ocean Development and International Law 237 trang 248.

[8] SHEN Jianming, “China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective” (2002) 1 Chinese Journal of International Law 94 trang 129, chú thích 122.

[9] Li and Li, chú thích 4 trang 290. Quan điểm này mâu thuẫn với Zou Keyuan, ông cho rằng hai vạch này bị xoá vào những năm 1960. Xem Zou, chú thích 5 trang 34–35.

[10] Malaysia-Socialist Republic of Viet Nam, “Joint Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 in Respect of the Southern Part of the South China Sea, Executive Summary” (May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư hồi đáp của TTK LHQ, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 6/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mysvnm_clcs33_2009e.pdf.

[11] Socialist Republic of Vietnam, “Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982, Partial Submission in Respect of Vietnam’s Extended Continental Shelf: North Area (VNM-N), Executive Summary” (April 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư hồi đáp của TTK LHQ, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 7/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_clcs37_2009e.pdf.

[12] United Nations Convention on the Law of the Sea, 10 December 1982, 1833 U.N.T.S. 397 (entered into force 16 November 1994), online: UNhttp://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf [UNCLOS], art. 76(8).

[13] Do Malaysia phê chuẩn UNCLOS ngày 14 tháng 10, 1996 và và Việt Nam phê chuẩn ngày 25 tháng Bảy năm 1994 nên hạn chót nộp hồ sơ bình thường theo Phụ lục II, Điều. 4 phải là năm 2006 và 2004, tương ứng. Nhưng vì nhiều nước gặp phải khó khăn trong việc đáp ứng hạn chót này của Phụ lục II, vào năm 2001 các nước thành viên UNCLOS đã quyết định sử dụng một điểm khởi đầu để xác định thời hạn này: ngày thông qua Hướng dẫn Khoa học và Kỹ thuật của CLCS đã trở thành điểm khởi đầu của thời kỳ 10 năm thay vì ngày UNCLOS bắt đầu có hiệu lực. Xem Decision Regarding the Date of Commencement of the Ten-Year Period for Making Submissions to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Set Out in Article 4 of Annex II to the United Nations Convention on the Law of the Sea, Meeting of State Parties, UN Doc. SPLOS/72 (2001). Đối với tất cả các nước mà UNCLOS đã có hiệu lực trước ngày 13/5/1999, gồm cả Malaysia and Việt Nam thì ngày 12 /5/2009 trở thành thời hạn chót mới.

[14] Bản đồ này được in lại trong Phụ lục I ở cuối bài viết này.

[15] Xem thêm NGUYEN Hong Thao, “Vietnam and Maritime Delimitation” in Ramses AMER và ZOU Keyuan, eds., Conflict Management and Dispute Settlement in East Asia (Farnham, Burlington: Ashgate, 2011), 171 trang 184, ông lưu ý rằng đây là dịp đầu tiên CHNDTH bày tỏ vị thế chính thức của họ về đường 9 chấm.

[16] CHNDTH, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/17/2009” (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.; CHNDTH, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—CML/18/2009” (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf . Bản đồ này được kèm vào các công hàm đó. Bản đồ cũng được in lại trong các nguồn tài liệu TQ: (2009) 9 China Oceans Law Review trang 200 và 202 and ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2009” (2009) 9 Chinese Journal of International Law trang 622.

[17] Paracel Islands (quần đảo Hoàng Sa).

[18] Spratly Islands (quần đảo Trường Sa).

[19] Macclesfield Bank (bãi cạn Macclesfiled).

[20] Pratas Islands (quần đảo Pratas).

[21] Hu, chú thích 6 trang 204–6.

[22] Xem Erik FRANCKX, “American and Chinese Views on Navigational Rights of Warships” (2011) 10 Chinese Journal of International Law 187 at 196, với tài liệu tham khảo thêm ở chú thích 48 chỉ ra rằng một số học giả phương Tây có khuynh hướng xem nó là sự chuẩn nhận cho yêu sách về quyền sở hữu lịch sử, trong khi các học giả khác nghĩ ngược lại dựa trên điều mà việc làm rõ không có nêu lên, tức là bất kỳ quy chiếu cụ thể nào tới vùng nước lịch sử.

[23] Republic of the Philippines, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—No. 000228” (5 April 2011), online: UNhttp://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf. Việt Nam đã đưa ra một trả lới đối với cả Philippines lẫn TQ, tuy nhiên vẫn không đưa ra bất kỳ cách diễn giải nào cho các lời lẽ này. Vietnam, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—77/HC-2011” (3 May 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/vnm_2011_re_phlchn.pdf.

[24] CHNDTH, chú thích 6.

[25] CHNDTH, “Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (7 July 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t838221.htm; CHNDTH, “Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (28 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t835066.htm; CHNDTH, “Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (21 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http:// www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t833157.htm; ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2010” (2011) 10 Chinese Journal of International Law 427 at 438.

[26] . Trong nhiều dịp trước công hàm 2009, TQ tái khẳng định chủ quền “không thể tranh cãi (indisputable)” hay “không thể chối cãi (undeniable)” của họ đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Xem ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2009” (2010) 9 Chinese Journal of International Law 607 at 612; ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2008” (2009) 8 Chinese Journal of International Law 493 at 504–5; ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2007 (I)” (2008) 7 Chinese Journal of International Law 485 at 498–9; ZHU Lijiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2006 (II)” (2007) 6 Chinese Journal of International Law 711 at 760; CHEN Qiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2004 (II)” (2005) 4 Chinese Journal of International Law 607 at 630–1; CHEN Qiang, “Chinese Practice in Public International Law: 2003 (II)” (2004) 3 Chinese Journal of International Law 591 at 598–9; PRC Ministry of Foreign Affairs, “China’s Indisputable Sovereignty over the Xisha and Nansha Islands”, (1980) 7 Beijing Review 15, discussed in Otani Yoshio, “À qui appartient l’archipel des Spratley? Un point de vue sur les revendications chinoises” (1996) 1 Annuaire du droit de la mer 179.

[27] Charles C. Hyde, “Maps as Evidence in International Boundary Disputes” (1933) 27 American Journal of International Law 311 at 315; Hasjim DJALAL, “South China Sea Island Disputes” in Myron H. NORDQUIST and John Norton MOORE, eds., Security Flashpoints: Oil, Islands, Sea Access and Military Confrontation (The Hague: Nijhoff, 1998), 109 at 113; F. MU¨ NCH, “Maps” in R. BERNHARDT, ed., Max Planck Encyclopedia of Public International Law vol. III (Amsterdam: Elsevier Science, 1995), 287 at 288; T.S. MURTI, “Boundaries and Maps” (1964) 4 Indian Journal of International Law 367 at 388; Daniel SCHAEFFER, “L’interprétation du droit de la mer par la Chine: ses effets majeurs en Extrême-Orient” (2008) 13 Annuaire du droit de la mer 23 at 43; Georg RESS, “The Delimitation and Demarcation of Frontiers in International Treaties and Maps” (1985) 14 Thesaurus Acroasium 435 at 443.

[28] Dzurek, chú thích 3 trang 13.

[29] Policy Guidelines for the South China Sea, Point 1, 10 March 1993, in SUN Kuan-Ming, “Policy of the Republic of China Towards the South China Sea: Recent Developments” (1995) 19 Marine Policy 401 at 408 (Annex I).

[30] Dzurek, chú thích 3 trang 13.

[31] Republic of China (Taiwan), Statement (1 July 1999), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52353&ctNode51902&mp56.

[32] PAN Shiying, “South China Sea and the International Practice of the Historic Title”, Conference on the South China Sea, American Enterprise Institute, Washington, 7–9 September 1994, referenced in ZOU Keyuan, “Historic Rights in International Law and in China’s Practice” (2001) 32 Ocean Development and International Law 149 at 161, chú thích 97; SONG Yann-huei and Peter Kien-hong YU, “China’s ‘Historic Waters’ in the South China Sea: An Analysis from Taiwan, R.O.C.” (1994) 12 American Asian Review 83.

[33] ZHAO Guocai, “Analysis of the Sovereign Dispute over the Spratlys under the Present Law of Sea” (1999) 9 Asian Review at 22 (in Chinese), translated in Li and Li, chú thích 4 trang 293. Tuy nhiên, cần nêu rõ rằng không phải mọi chuyên gia pháp lý Đài Loan đều ủng hộ các tiếp cận yêu sách vùng nước lịch sử dù có lập trường chính thức của chính phủ của họ. Xem ZOU Keyuan, “China and Maritime Boundary Delimitation: Past, Present and Future” in Amer and Zou, eds., chú thích 15, trang 160.

[34] . Xem Andrea GIOIA, “Historic Titles” in Rudiger WOLFRUM, ed., The Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford: Oxford University Press, 2008), online: MPEPIL http:// www.mpepil.com.

[35] Zou, chú thích 33 trang 152.

[36] Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays, Study Prepared by the Secretariat, UN Doc. A/CN.4/143 (1962), (1962) 2 Yearbook of the International Law Commission 1 [Historic Waters Study].

[37] Ibid., trang 13. Nghiên cứu này còn nêu khả năng về một đòi hỏi thứ tư (biện minh “trên cơ sở nhu cầu kinh tế, an ninh quốc gia, lợi ích sống còn hay một căn cứ tương tự”) nhưng chưa có sự đồng thuận cao về đòi hỏi này. Tuy nhiên, ngưới ta cần phải hoàn thành danh sách này với một đòi hỏi tổng quát hơn rằng quền sở hữu lịch sử phải thật rõ ràng. Xem Ahmed ABOU-EL-WAFA, “Les différends internationaux concernant les frontières terrestres dans la jurisprudence de la Cour internationale de justice” (2010) 343 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 9 at 397.

[38] Zou, chú thích 33 trang 161 and references, chú thích 25.

[39] Về một nghiên cứu cho cả hai vị thế, xem Historic Waters Study, chú thích 36 at 16–19.

[40] Xem, chẳng hạn,bằng tiếng Anh, Markus KOTZUR, “Intertemporal Law” in WOLFRUM, ed., chú thích 24. Một phân tích chi tiết hơn bằng tiếng Pháp, xem Paul TAVERNIER, Recherches sur l’application dans le temps des actes et des règles en droit international public (problèmes de droit intertemporel ou de droit transitoire) (Paris: Librairie générale de droit et de jurisprudence).

[41] Xem Hasjim DJALAL, “South China Sea Island Disputes” (2000) The Raffles Bulletin of Zoology

(Supplement No. 8) 9.

[42] Clive Ralph SYMMONS, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal (Leiden: Nijhoff, 2008) at 17–37. Đưa ra một lập luận tương tự trên cơ sở công trình của Uỷ ban Luật quốc tế về dàn ý của công ước 1958 cũng như trên cơ sở UNCLOS, Xem Franckx, chú thích 24 trang 197, và d0a85c biệt là chú thích 50.

[43] Lần duy nhất TQ được nêu liên quan tới yêu sách lịch sử của Liên Xô cũ đối với Vịnh Peter the Great (Symmons, chú thích 42 trang 144).

[44] Tullio SCOVAZZI, “Book Review of ‘Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal by Clive Ralph Symmons, Leiden, Martinus Nijhoff, 322 pp., 2008’ “ (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 637 at 642. Xem thêm ibid., at 639–40 và trong cùng một ý nghĩa xem Symmons, chú thích 42, trang 242–5, 299–300. Continental Shelf (Tunisia/Libyan Arab Jamahiriya), [1982] I.C.J. Rep. 18 at 73–4:
Không có định nghĩa về khái niệm lẫn nghiên cứu về chế độ pháp lý của “vùng nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử”. Tuy nhiên, có các khoản đề cập về “vịnh lịch sử” hay “quyền sở hữu lịch sử” hay các lý lẽ lịch sử theo hướng tạo nên một bảo lưu cho các quy tắc xác lập từ đó trở đi. Vấn đề này dường như rõ ràng tiếp tục bị điều tiết bởi luật quốc tế chung, luật này không đưa ra một” chế độ” đơn nhất cho “các vùng nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử”, nhưng chỉ cho một chế độ đặc biệt cho mỗi trường hợp cụ thể đã được thừa nhận về “vùng nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử”.

[45] Lập luận này được đưa ra trong WU Fengbing, “Historical Evidence of China’s Ownership of the Sovereignty over the Spratly Islands” in China Institute for Marine Development Strategy, ed., Selected Papers of the Conference on the South China Sea Islands (Beijing: Ocean Press, 1992) at 111 (in Chinese), referenced in Zou, chú thích 33 trang 161, note 98.

[46] Tổng quát, xem Franckx, Benatar, Joe, and Van den Bossche, chú thích 2. Nói cụ thể hơn về biển Đông, xem NGUYEN Hong Thao, Le Vietnam et ses différends maritimes dans la Mer de Bien Dong (Mer de Chine méridionale) (Paris: Pedone, 2004) at 258.

[47] Như đã nêu ở  chú thích 2, Việt Nam gọi khu vực này là “Biển Đông” (“East Sea”). Xem National Border Committee under the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, online: National Border Committeewww.biengioilanhtho.gov.vn/bbg-vie/home.aspx.

[48] International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, 3rd ed. (Monte-Carlo: Imp. Mone´gasque, 1953) at preface and 30, online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-23/S23_1953.pdf. Các bản đồ xưa cũng dùng cách gọi này chỉ vì trong lịch sử, hàng hải châu Âu chủ yếu gặp tàu thuyền TQ. Xem Y. LACOSTE, “Mer de Chine ou mer de l’Asie du Sud-Est” (1981) 24 Hérodote at 13, referenced in Nguyen, chú thích 46 trang 257

[49] Nguyen, chú thích 46 trang 257.

[50] Republic of China (Taiwan), “Statement of the Ministry of Foreign Affairs concerning the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea signed by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and the CHNDTH (PRC) in Cambodia on November 4, 2002” (5 November 2002), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52357&ctNode51902&mp56:
Chính phủ THDQ tái khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Đông Sa (quần đảo Pratas), Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), Trung Sa (bãi cạn Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa) trong biển Hoa Nam, Đối với các quần đảo này THDQ có tất cả quyền hợp pháp theo luật quốc tế;

Republic of China (Taiwan), “The Position of the Ministry of Foreign Affairs on Taiwan’s Sovereignty over Islands in the South China Sea” (20 November 2007), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem527782&ctNode51903&mp56.

Quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield và quần đảo Pratas luôn luôn là phần cố hữu của các vùng lãnh thổ Đài Loan, dù nhìn từ quan điểm của lịch sử địa lý, pháp luật quốc tế hay thực tế đơn giản. Theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, chủ quyền đối với các quần đảo này của chính phủ Đài Loan là không thể nghi ngờ và Đài Loan hưởng tất cả các quyền tương ứng;

Republic of China (Taiwan), “The Government of the Republic of China (Taiwan) Reiterates its Sovereignty over the Spratly Islands and has Proposed a Spratly Initiative that Focuses on Environmental Protection Instead of Sovereignty Disputes” (15 August 2008), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem532920&ctNode51903&mp56:

Quần đảo Trường Sa, bao gồm cả rạn san hô Swallow (đảo san hô Layang-Layang), nằm trong vùng lãnh hải của Đài Loan. Dù theo quan điểm pháp lý, lịch sử địa lý hoặc luật quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas và các vùng nước lân cận là một phần của lãnh thổ và lãnh hải của Đài Loan;

Republic of China (Taiwan), “Solemn Declaration of the Ministry of Foreign Affairs of the Republic of China concerning the Philippine Senate Bill 2699 and House Bill 3216” (6 February 2009), online: Ministry of Foreign Affairshttp://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem536914&ctNode51902&mp56: Dù từ góc độ lịch sử, địa lý, thực tế hay luật pháp quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas, cũng như các vùng biển xung quanh, là các vùng lãnh thổ hiện hữu của THDQ. Sự kiện rằng chủ quyền của các khu vực này thuộc về chính phủ của chúng tôi là không thể phủ nhận, Đài Loan được hưởng và xứng đáng với tất cả các quyền tương ứng. Bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với, hoặc sự chiếm cứ, các quần đảo này và vùng nước xung quanh sẽ không được chính phủ THDQ thừa nhận.

[51] Republic of China (Taiwan), “Declaration of the Republic of China on the Outer Limits of Its Continental Shelf, no 003” (12 May 2009), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/content.asp?cuItem538077&ctNode51036&mp56.

[52] Hasjim DJALAL, “Conflicting Territorial and Jurisdictional Claims in South China Sea” (1979) 7(1) The Indonesian Quarterly 36 at 41–2.

[53] Robert W. SMITH, “Maritime Delimitation in the South China Sea: Potentiality and Challenges” (2010) 41 Ocean Development and International Law 214 at 224. Xem thêm GAO Zhiguo, “The South China Sea: From Conflict to Cooperation?” (1994) 25 Ocean Development and International Law 345 at 346: “nghiên cứu tỉ mỉ các tài liệu Trung Quốc cho thấy rằng Trung Quốc không bao giờ tuyên bố chủ quyền toàn bộ cột nước của vùng biển Biển Đông mà chỉ là các đảo và vùng biển xung quanh bên trọng đường này”. Xem thêm phát biểu của Wang Xiguang (Uông Hi Quang), người đã giúp Cục Địa lý Bộ Nội Chính trong việc chế tác các bản đồ trong những năm 1940 và dùng cùng một kỹ thuật nhưng đi đến một kết quả khác: “đường biên giới quốc qia chấm chấm được vẽ như là trung tuyến giữa TQ và các nước liền kề”, trong XU Sen’an, “The Connotation of the 9-Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea” trong ZHONG Tianxiang, ed., Paper Selections of the Seminar on “The South China Sea in the 21st Century: Problems and Perspective” (Hainan Research Center of the South China Sea, 2000) at 80 (in Chinese), translated in Li and Li, chú thích 4 trang 290.

[54] Dzurek, chú thích 3 trang 11.

[55] Một quyển sách nói về cách giải quyết các vần đề này, xem Monique CHEMILLIER-GENDREAU, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (The Hague: Kluwer Law International, 2000).

[56] Anna RIDDELL and Brendan PLANT, Evidence Before the International Court of Justice (London: British Institute of International and Comparative Law, 2009) at 31.

[57] Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali), [1986] I.C.J. Rep. 554 at 582, para. 54.

[58] Kasikili/Sedudu Island (Botswana/Namibia), [1999] I.C.J. Rep. 1045 at 1098, para. 84, nêu: “Tòa án sẽ bắt đầu bằng việc nhắc lại những gì mà Ban thẩm phán (Chamber) xử vụ tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) phải nói về giá trị chứng cứ của bản đồ”; Tranh chấp lãnh thổ và biển giữa Nicaragua and Honduras trong biển Caribbean (Nicaragua v. Honduras), [2007] I.C.J. Rep. 659 at 723, para. 215, nêu: “Toà án tái khẳng định lập trường của họ trước đây liên quan đến phạm vi vô cùng hạn chế của bản đồ như là một nguồn tư liệu về quyền sở hữu chủ quyền”; Tranh chấp biên giới (Benin/Niger), [2005] I.C.J. Rep. 90 at 119–20, para. 44, nêu: “nguyên tắc này [như mô tả trong tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali)] cũng sẽ hướng dẫn Ban Thẩm phán trong việc đánh giá các bản đồ mà các Bên trong trường hợp hiện tại dựa vào”; Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia), [2002] I.C.J. Rep. 625 at 667, para. 88; Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain), Separate Opinion of Judge Kooijmans, [2001] I.C.J. Rep. 225 at 242, para. 68.

[59] Patrick DAILLIER, Mathias FORTEAU, and Alain PELLET, Droit international public, 8th ed. (Paris: L.G.D.J., 2009) at 524, para. 301.

[60] Một bàn luận về khả năng hạn chế này, xem Maurice KAMTO, “Le matériau cartographique dans les contentieux frontaliers et territoriaux internationaux” in Emile YAKPO and Tahar BOUMEDRA, eds., Liber Amicorum Judge Mohammed Bedjaoui (The Hague: Kluwer, 1999) at 371–98.

[61] Riddell and Plant, chú thích 56 trang 266.

[62] ZHAO Lihai, Studies on the Law of Sea (Beijing: Beijing University Press, 1996) at 37 (in Chinese), translated in Li and Li, chú thích 4 trang 291.

[63] JIAO Yongke, “There Exists No Question of Redelimiting Boundaries in the Southern Sea” (2000) 17 Ocean Development and Management at 52 (in Chinese), translated in Michael STRUPP, “Maritime and Insular Claims of the PRC in the South China Sea under International Law” (2004) 11 Zeitschrift fu¨ r chinesisches Recht 1 at 16.

[64] Zou, chú thích 33 trang 160.

[65] Grisbadarna Case (Norway v. Sweden), Decision of 23 October 1909, [1910] 4 American Journal of International Law 226 at 231, nêu rằng: “lãnh hải là thứ phụ thuộc chính yếu của lãnh thổ đất liền” (dịch từ bản gốc tiếng Pháp, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 159); North Sea Continental Shelf (Federal Republic of Germany/Denmark; Federal Republic of Germany/Netherlands), [1969] I.C.J. Rep. 3 at 51, para. 96: “Trong cả hai trường hợp [vùng tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa] nguyên tắc được áp dụng là đất thống trị biển”. Nghiên cứu sâu hơn và các trường hợp của nguyên tắc này, xem Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 88–90.

[66] Fisheries Case (United Kingdom v. Norway), [1951] I.C.J. Rep. 116 at 132.

[67] UNCLOS, chú thích 12, đã được tất cả các bên tranh chấp biển Đông phê chuẩn ngoại trừ Đài Loan (Việt Nam: 25/07/1994, TQ 07/06/1996, Philippines: 08/05/1984,Malaysia: 14/10/1996, Brunei: 05/11/1996, Myanmar: 21/05/1996, and Thailand: 15/05/2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/reference_files/chronological_lists_of_ratifications.htm.

[68] Ibid.

[69] Một cách tiếp cận mới giới hạn đáng kể khả năng áp dụng ngoại lệ của Điều 121(3) đối với việc phân giới trên biển, xem Bernard H. OXMAN, “On Rocks and Maritime Delimitation” in Mahnoush H. ARSANJANI, Jacob Katz COGAN, Robert D. SLOANE, and Siegfried WIESSNER, eds., Looking to the Future: Essays on International Law in Honor of W. Michael Reisman (Leiden/Boston: Martinus Nijhoff, 2011), 893. Theo lý luận của tác giả, những tranh cãi liên quan đến ý nghĩa chính xác của việc cư trú của con người và đời sống kinh tế sẽ ít quan trọng hơn, bởi vì trong giai đoạn phân giới các đảo nhỏ thường chỉ đóng một vai trò nhỏ.

[70] Alex G. Oude ELFERINK, “The Islands in the South China Sea: How Does Their Presence Limit the Extent of the High Seas and the Area and the Maritime Zones of the Mainland Coasts?” (2001) 32 Ocean Development and International Law 169 at 182. Xem thêm Marius GJETNES, “The Spratlys: Are They Rocks or Islands?” (2001) 32 Ocean Development and International Law 191 at 199–201; Barry Hart DUBNER, “The Spratly ‘Rocks’ Dispute: A ‘Rockapelago’ Defies Norms of International Law” (1995) 9 Temple International and Comparative Law Journal 291 at 299–306.

[71] Nó liên quan đến những hành động do TQ thực hiện nhằm đưa thêm một số mục bổ sung vào chương trình nghị sự tại cuộc họp năm 2009 của các nước thành viên UNCLOS và kỳ họp lần thứ 15 của Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) một năm sau đó. Xem Erik FRANCKX, “The International Seabed Authority and the Common Heritage of Mankind: The Need for States to Establish the Outer Limits of Their Continental Shelf” (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 543 at 563–4. Cách làm như vậy được lặp lại vào thời điểm Hội nghị của các nước thành viên UNCLOS năm 2011 nhưng không lặp lại tại cuộc họp lần 17 của ISA khoảng một tháng sau đó.

[72] Như chỉ rõ qua tựa đề phần trình bày của giáo sư Jia Yu, đưa ra trong một buổi báo cáo tóm tắt của ISA năm 2009. Mặc dù đóng góp này có tựa đề là “Safeguarding the Common Heritage of Mankind” (Bảo vể di sản chung của loài người) trong công bố cho báo chí của ISA (ISA, “Press Release SB/15/10” (June 2009) at 3, online: ISA http://www.isa.org.jm/files/documents/EN/Press/Press09/SB-15–10.pdf), các phim chiếu slides phân phát vào lúc đó tại buổi báo cáo tóm tắt lại có một tựa đề cụ thể hơn, đó là “The Rock of Oki-no-Tori Shall Have No EEZ and Continental Shelf” (Đảo đá Okinotori sẽ có EEZ và thềm lục địa mở rộng). Xem thêm Ted McDORMAN, “The South China Sea after 2009: Clarity of Claims and Enhanced Prospects for Regional Cooperation?” (2010) 24 Ocean Yearbook 507 at 514–15. Về chi tiết và các hành động sau này của các bên về mặt này, xem Yann-Huei SONG, “The Application of Article 121 of the Law of the Sea Convention to the Selected Geographical Features Situated in the Pacific Ocean” (2010) 9 Chinese Journal of International Law 663 at 671–4.

[73] Indonesia, “Letter to the Secretary-General of the United Nations – 480/POL-703/VII/10” (8 July 2010), online: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_ vnm_e.pdf. Sự liên kết giữa các hành động can thiệp này với Biển Đông được trình bày trong công hàm này như sau: Về mặt này, các phát biểu của các đại diện ưu tú của CHNDTH cũng liên quan đến tình hình ở biển Đông và do đó thật đúng khi nêu rằng những thể địa lý rất nhỏ hoặc ở xa xôi ở biển Đông không xứng đáng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của riêng mình. Cho phép sử dụng các đảo đá, các rạn san hô và đảo san hô vòng không có người ở cô lập với đất liền và ở giữa biển khơi như một điểm cơ sở để tạo ra các khu vực biển gây quan ngại tới các nguyên tắc cơ bản của Công ước [1982] và xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng toàn cầu. Vì thế,như được chứng thực bởi những phát biểu trên, cái gọi là “bản đồ đường 9 chấm” rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và đồng nghĩa với việc đảo lộn… Công ước 1982.

[74] Xem bộ phận luật án lệ rộng hơn và ý kiến các học giả nêu trong Gérard NIYUNGEKO, La preuve devant les juridictions internationales (Brussels: Bruylant, 2005) at 322–35, and more recently Case concerning Pulp Mills on the River Uruguay (Argentina v. Uruguay), [2010] I.C.J. Rep. 1 at 52, para. 168.

[75] Raphae¨le RIVIER, “La preuve devant les juridictions interetatiques à vocation universelles (CIJ et TIDM)” in Hélène Ruiz FABRI and Jean-Marc SOREL, eds., La preuve devant les juridictions internationales (Paris: Pedone, 2007), 9 at 38–48. More generally, judicial bodies select the facts they deem pertinent in a discretionary manner. Xem Jean SALMON, “Le fait dans l’application du droit international” (1982) 175 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 261 at 300. For a critical approach to the freedom of judges with respect to weighing evidence, Xem Rudiger WOLFRUM, “Taking and Assessing Evidence in International Adjudication” in Tafsir Malick NDIAYE and Rudiger WOLFRUM, eds.,Law of the Sea, Environmental Law and Settlement of Disputes: Liber Amicorum Judge Thomas A. Mensah (Leiden: Martinus Nijhoff, 2007), 341 at 342; Patrick KINSCH, “On the Uncertainties Surrounding the Standard of Proof in Proceedings before International Courts and Tribunals” in Gabriella VENTURINE and Stafania BARIATTI, eds., Liber Fausto Pocar—Diritti individuali e giustizia internazionale, vol. 1 (Milan: Giuffre`, 2009), 427 at 438–9; Chittharanjan F. AMERASINGHE, Evidence in International Litigation (Leiden: Martinus Nijhoff, 2005) at 232–61.

[76] Mặc dù không có học thuyết về việc dựa vào tiền lệ (stare decisis) trong luật quốc tế, tòa và tòa án quốc tế thường trích dẫn luật án lệ. Điều này đặc biệt đúng đối với ICJ, là toà có tính tự tham chiếu cao độ và sẽ chỉ đi chệch khỏi án lệ trong quá khứ khi có các lý do xác đáng. Xem Alan BOYLE and Christine CHINKIN, The Making of International Law (Oxford: Oxford University Press, 2007) at 293–9; Gilbert GUILLAUME, “The Use of Precedent by International Judges and Arbitrators” (2011) 2 Journal of International Dispute Settlement 5 at 12.

[77] Frontier Dispute, chú thích 57 trang 582, para. 55, nêu: “trọng lượng phân cho các bản đồ với tư cách bằng chứng phụ thuộc vào một số lớn các cân nhắc”; Qatar v. Bahrain, chú thích 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Berna´rdez trang 274, para. 37, nêu: “trọng luợng của các bản đồ với tư cách là bằng chứng phụ thuộc vào một loạt các cân nhắc.”

[78] Xem Case concerning the Delimitation of Maritime Boundary between Guinea-Bissau and Senegal (Guinea- Bissau/Senegal), Decision of 31 July 1989, Dissenting Opinion of Mr. Mohammed Bedjaoui, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 119 at 166–9, paras. 32–7 (lập luận chống lại một chuyển vị tự động các nguyên tắc lãnh thổ sang phân định biển cho các khác biệt “hiển nhiên” và “không thể giảm hơn” về mặt địa lý, mối quan hệ của chúng với các quyền của các dân tộc và các quốc gia quyền đối với các vùng này); Lea BRILMAYER and Natalie KLEIN, “Land and Sea: Two Common Sovereignty Regimes in Search of a Common Denominator” (2001) 33 New York University Journal of International Law and Politics 703 at 703–4 (lưu ý rằng ý nghĩa then chốt được gán cho sở hữu trên thực tế trong việc quyết định về việc phân bổ của lãnh thổ đất liền, trong khi các tranh chấp hàng hải được giải quyết theo “quy tắc công bằng”); Marcelo G. KOHEN, “L’uti possidetis iuris et les espaces maritimes” in Jean-Pierre COT, ed., Liber amicorum Jean-Pierre Cot: le proce`s international (Bruxelles: Bruylant, 2009), 155 at 157–9 (lập luận ủng hộ việc áp dụng uti possidetis iuris[nguyên tắc sở hữu như đã có] đối với các vùng biển nhưng vẫn nhấn mạnh rằng các vùng lãnh thổ và biển bi chi phối theo chế độ pháp lý riêng biệt).

[79] Xem các ví dụ về các vụ liên quan một phần đến các tranh chấp trên biển, chú thích 58 có trích một đoạn văn từ vụ tranh chấp biên giới (Burkina Faso/Republic of Mali) (đó là một vụ về lãnh thổ).

  1. Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.),Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 nêu: “chỉ có thể xét tới các bản đồ trong việc quyết định về chủ quyền với một sự cẩn trọng tối đa”, tái khẳng định trong vụ Nicaragua v. Honduras, chú thích 58 trang 58, para.

[80] Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852–3 nêu: “trong việc quyết định vấn đề chủ quyền các bản đồ có thể được xét tới chỉ với sự thận trọng lớn nhất”, tái xác nhận trong vụ Nicaragua v. Honduras, chú thích 60 trang 58, para. 214; Territorial Sovereignty and Scope of the Dispute (Eritrea/Yemen), Decision of 9 October 1998, [2006] XXII Reports of International Arbitral Awards 209 at 296, para. 388, nêu: “như trong tất cả các trường hợp về bản đồ, bằng chứng phải được xử lý thât tinh tế”. For an opposing view calling into question the reluctant approach of international adjudicators vis-à-vis cartographic evidence, Xem Romulo R. UBAY Jr, “Evidence in International Adjudication: Map Evidence in Territorial Sovereignty Dispute Cases” (2011) 1 Aegean Review of the Law of the Sea and Maritime Law 287.

[81] Arbitration Between Great Britain and Portugal as Regards Questions Relative to the Delimitation of their Spheres of Influence in East Africa (Manica plateau) (United Kingdom/Portugal), Decision of 30 January 1897, [2007] XXVIII Reports of International Arbitral Awards 283 at 298.

[82] Indo-Pakistan Western Boundary (Rann of Kutch) between India and Pakistan (India v. Pakistan), Award of 19 February 1968, Proposal of Mr. Nasrollah Entezam, [2006] XVII Reports of International Arbitral Awards 1 at 505, nêu: “bản đồ chỉ là bằng chứng phụ. Chỉ có bản đồ được chuẩn bị bởi người giám định ngay tại chỗ bằng cách quan sát mới là bằng chứng chính. Thậmm chí chúng là bằng chứng chính chỉ cho những điều mà người giám định có thể tự mình quan sát”; Qatar v. Bahrain, chú thích 60, Dissenting Opinion of Judge Torres Bernardez at 274, para. 37, nêu: “ nói chung, giá trị như là bằng chứng do toà và toà án quốc tế gán cho chúng là có tính củng cố hay xác nhận cho các kết luận đã được rút ra từ các phương cách khác không dính dáng tới các bản đồ, vì các bản đồ như thế không có danh nghĩa pháp lý”; Island of Palmas, chú thích 80 trang 853–4, nêu: “dù sao đi nữa, bản đồ chỉ có khả năng đưa ra một chỉ định – và đó là một chỉ định rất gián tiếp – và trừ khi được kèm theo một công cụ pháp lý, sẽ không có giá trị của một công cụ như vậy, liên quan đến công nhận hoặc từ bỏ quyền”; ibid., trang 853: Nếu trọng tài hài lòng về sự tồn tại của các sự kiện pháp lý có liên quan nhưng các sự kiện này lại mâu thuẫn với lời khai của những người vẽ bản đồ có nguồn thông tin không biết rõ, ông ta có thể sẽ không gán trọng lượng nào cho các bản đồ, tuy các bản đồ này rất nhiều và thường có thể được đánh giá cao.

[83] Frontier Dispute, chú thích 57 trang 583, para. 56. Xem thêm The Government of Sudan/The Sudan People’s Liberation Movement/Army (Abyei Arbitration), Final Award of 22 July 2009, online: CA http://www.pca-cpa.org trang 256, para. 741: Tương tự như vậy toà án rất miễn cưỡng cân bằng biên giới phía Đông và phía Tây khu vực do Ngok Dinka chiếm đóng chuyển giao vào năm 1905 với mô tả bằng bút chì khu vực chăn thả gia súc mùa khô của Ngok Dinka vào năm 1933  trên một bản đồ vẽ phác, đặc biệt là khi toà đã có bằng chứng toàn diện và cụ thể hơn.

[84] Sakeus AKWEENDA, “The Legal Significance of Maps in Boundary Questions: A Reappraisal with Particular Emphasis on Namibia” (1990) 60 British Yearbook of International Law 205 at 212; A.O. CUKWURAH, The Settlement of Boundary Disputes in International Law (Manchester: Manchester University Press, 1967) at 224–5; Hyde, chú thích 27 trang 313–15; Victor PRESCOTT and Gillian D. TRIGGS, International Frontiers and Boundaries: Law, Politics and Geography (Leiden: Nijhoff, 2008) at 194–5; Durward V. SANDIFER, Evidence before International Tribunals, 2nd ed. (Charlottesville: University Press of Virginia, 1975) at 235; Guenter WEISSBERG, “Maps as Evidence in International Boundary Disputes: A Reappraisal”, (1963) 57 American Journal of International Law 781 at 781.

[85] Ví dụ, Ian BROWNLIE, The Rule of Law in International Affairs: International Law at the Fiftieth Anniversary of the United Nations (The Hague: Martinus Nijhoff, 1998) at 156.

[86] Manfred LACHS, “La preuve et la Cour internationale de Justice” in Chaı¨m PERELMAN and Paul FORIERS, eds., La preuve en droit (Brussels: Bruylant, 1981), 109 at 109.

[87] Mức phù hợp trong bản đồ không cần phải luôn luôn là tuyệt đối, nhưng nó phải phù hợp trên tổng quát. Abouel- Wafa, chú thích 39 trang 432–4.

[88] Kasikili/Sedudu Island, chú thích 58 trang 1100, para. 87; Xem thêm Dubai/Sharjah Border Arbitration (Dubai v. Sharjah), Award of 19 October 1981, [1993] 91 International Law Reports 543 at 630, para. 168: Theo quan điểm của Toà án cần phải dẹp sang một bên cả hai bản đồ do ông Walker chuẩn bị khi xem xét về mặt vị trí của Hadlib Azana, vì, mặc dù được chuẩn bị bởi cùng một người, chúng lại mâu thuẫn lẫn nhau về đường ranh giới chung trong khu vực này. Suy đoán thêm về các lý do có thể có cho một mâu thuẫn như vậy là chuyện vô ích. Eritrea/Yemen Arbitration, chú thích 80 trang 296, para. 388: Các bằng chứng cho thời kỳ này đầy rẫy các mâu thuẫn và sự không chắc chắn. Mỗi bên đã thể hiện sự không thống nhất trong các bản đồ chính thức của mình. Tuy nhiên, xu hướng chung là bằng chứng bản đồ củaYemen vượt trội về tầm mức và số lượng so với Eritrea. Tuy nhiên, trọng lượng như vậy có thể được gắn vào bản đồ bằng chứng ủng hộ của một bên được cân bằng bởi thực tế là mỗi bên đã công bố những bản đồ có vẻ đi ngược với khẳng định của mình trong các thủ tục tố tụng. Delimitation of the Border Between the State of Eritrea and the Federal Democratic Republic of Ethiopia (Eritrea-Ethiopia Boundary Commission), Decision of 1 January 2002, [2002] 41 International Legal Materials 1057 at 1089, para. 4.67: Bằng chứng bản đồ là không đồng nhất và nhất quán. Phần lớn hỗ trợ sự tồn tại của một phóng chiếu của Belesa và gán lãnh thổ bên trong nó cho Eritrea. Tuy nhiên, có nhiều bản đồ không làm như vậy, hoặc chỉ làm như vậy một phần.

[89] Tuy nhiên xem Separate World’s Geography (Chinese Ya Guang Geographic Publisher, 1951) trang 18 (Bản đồ nước Cộng hoà), trong đó chỉ có khoảng nửa số vạch được thể hiện [bản đồ TQ 1951].

[90] Xem Chinese State Bureau of Surveying and Mapping, Map World, online: Map World http://www.chinaonmap.cn. Bản đồ này được in lại một phần trong Phụ lục II ở cuối bài viết này.

[91] Vì vậy, về mặt kỹ thuật hình như chính xác hơn khi nói đường chấm chấm với số vạch thay đổi, chẳng hạn như là đường 11/9/10-chấm. Tuy nhiên, vì cho tới nay đường 9 chấm là đường mà TQ dựa vào để minh định lập trường của họ trong tranh chấp của quốc gia đối với quốc gia trên bình diện quốc tế nên bài đóng góp này thường sẽ dùng khái niệm “đường 9 chấm”, trừ khi các đường với số chấm khác có ý nghĩa pháp lý.

[92] Eritrea/Yemen Arbitration, chú thích 80 trang 295, para. 382.

[93] Các vạch được TQ sử dụng để vẽ đường chữ U không phù hợp với các quy định kỹ thuật biểu đồ do Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra dùng để chỉ ranh giới biển quốc tế, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, khu thủy sản, vv. Xem International Hydrographic Organization, Regulations of the IHO for International (INT) Charts and Chart Specifications of the IHO, 4th ed. (Monaco: International Hydrographic Bureau, 2010) at B-440, C-407 (International Boundaries and National Limits), online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-4/S4_v4.000_Sep10.pdf . Kiểu lập luận này đã được Ukraina đưa ra chống lại Romania trong vụ ở Biển Đen (Romania v. Ukraine), Counter-memorial of Ukraine, 19 May 2006 at 123–5.

[94] International Hydrographic Organization Membership, online: IHO http://www.iho-ohi.net/english/home/about-the-iho/about-iho-member-states/ms-information.html.

[95] Kasikili/Sedudu Island, chú thích 58, Separate Opinion of Judge Oda trang 1133–4, para. 40. Xem thêm Frontier Dispute, chú thích 59 trang 583, para. 57, nêu: “bây giờ Ban thẩm phán (Chamber) quay sang các bản đồ được in trong trường hợp này. Đối với Ban Thẩm phán không có một bản đồ đơn lẻ có sẵn nào có thể nói một cách đáng tin cậy là phản ánh được những ý định của chính quyền thực dân được thể hiện trong các các văn bản liên quan đến biên giới đang có tranh chấp.” Xem thêm Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 425–6.

[96] Smith, chú thích 55 trang 224.

[97] Kasikili/Sedudu Island, chú thích 58, Separate Opinion of Judge Oda trang 1133–4, para. 40.

[98] Cũng phải nói rõ rằng dù ngay cả trong tình huống như thế, việc chế tác bản đồ cũng không phải là một công việc có “giá trị trung lập” về khoa học. Những bóp mép không chủ ý cũng có thể len vào trong quá trình này do những thiên lệch của nhà vẽ bản đồ và bối cảnh xã hội. Jordan BRANCH, “Mapping the Sovereign State: Technology, Authority, and Systemic Change” (2011) 65 International Organization 1 at 7.

[99] Trừ khi một bản đồ như vậy đi ngược vị thế của họ. Xem chẳng hạn, Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), [2008] I.C.J. Rep. 12 at 95, para. 272. Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 460–2.

[100] Beagle Channel Arbitration (Argentina v. Chile), Decision of 18 February 1977, [2006] XXI Reports of International Arbitral Awards 53 at 167, para. 142. Xem thêm Frontier Dispute, chú thích 57 trang 583, para. 56, nêu rằng: “những cân nhắc khác để xác định trọng lượng của các bản đồ như là bằng chứng liên quan tới tính trung lập của các nguồn của chúng đối với tranh chấp đang xem xét và với các bên đối với tranh chấp đó.”

[101] Cukwurah, chú thích 86 trang 224. Xem thêm Hyde, chú thích 27 trang 315: Các khát vọng cao đô về lãnh thổ của một nước, qua thời gian nhiều năm có thể phản ánh trong một loạt các bản đồ liên tiếp mô tả rõ rệt sự lấn tới thực sự và dần dần, và những mô tả sau này có thể khác biệt rõ rệt với các mô tả trước đó;dù thực tế không có hiệp ước mở rộng ranh giới hay điều chỉnh biên giới nào cả.

[102] Charles DE VISSCHER, Problèmes de confins en droit international public (Paris: Pedone, 1969) trang 46. Xem thêm Joseph Charles WITENBERG, “La théorie des preuves devant les juridictions internationales” (1936) 56 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 1 at 66: “la valeur scientifique de la méthode ayant présidé´à leur établissement”; Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 431.

[103] Ian BROWNLIE, African Boundaries: A Legal and Diplomatic Encyclopaedia (London: Royal Institute of International Affairs, 1979) trang 5.

[104] Cukwurah, chú thích 84 trang 217–20.

[105] Island of Palmas, chú thích 80 trang 853. Cited in Dubai/Sharjah Border Arbitration, chú thích 88 trang 630, para. 168. Xem thêm Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, chú thích 88 trang 1075, para. 3.19, nêu: Ủy ban cũng lưu ý rằng các bản đồ, dù thông tin nó cung cấp nhiều như thế nào, không nhất thiết thể hiện chính xác, khách quan thực tế trên mặt đất’

[106] Frontier Dispute, chú thích 57 trang 582–3, para. 55. Xem thêm Beagle Channel, chú thích 100 trang 174, para. 154, nêu: “Vì thếTòa án bắt buộc đi đến kết luận rằng bản đồ của Pelliza thiếu chắc chắn tới mức không có giá trị chứng minh đòi hỏi”; Request for Interpretation of the Judgment of 15 June 1962 in the Case concerning the Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Order of 18 July 2011, Dissenting Opinion of Judge ad hoc Cot, [2011] I.C.J. Rep. 1 at 4, para. 21–2 (tuyên bố quyết định của Toà xác định một khu vực phi quân sự tạm thời là “thiếu thận trọng”dưới ánh sáng của tài liệu bản đồ mà ông cho là hạn chế và không đủ đáng tin cậy theo quan điểm kỹ thuật).

[107] Legal Consequences of the Construction of a Wall in the Occupied Palestinian Territory, Advisory Opinion, [2004] I.C.J. Rep. 136 at 168, para. 80. Về việc ICJ chấp nhận ảnh vệ tinh trong các vụ tranh chấp, xem Jana K. HETTLING, “The Use of Remote Sensing Satellites for Verification in International Law” (2003) 19 Space Policy 33 at 38, nghiên cứu sâu hơn của cùng tác giả trong Satellite Imagery for Verification and Enforcement of Public International Law (Cologne: Heymann, 2008) at 157–65.

[108] Dzurek, chú thích 3 trang 12; Zou, chú thích 5 trang 51.

[109] Dzurek, chú thích 3 trang 11.

[110] Xem chẳng hạn bản đồ TQ 1951, chú thích 89. Không những một số vạch chỉ việc biến mất đi (ibid.) mà vị trí của những vạch biểu hiện trên rằng bản đồ đó với tỉ lệ 1:23.500.000 rõ ràng là sai biệt với những vạch thấy trong Phụ lục I: ba vạch đầu tiên rõ ràng là thấy được, nhưng vạch đầu tiên nằm theo hướng tây bắc nhiều hơn, vạch thứ hai ở hướng tây nam, và vạch thứ ba theo hướng phía bắc khi so sánh với bản đồ Phụ lục I.

[111] Land, Island and Maritime Frontier Dispute (El Salvador/Honduras: Nicaragua Intervening), [1992] I.C.J. Rep. 350 at 550, para. 315. Xem thêm Kasikili/Sedudu Island, chú thích 58, Dissenting Opinion of Vice-President Weeramantry at 1176, para. 73: Bản đồ dĩ nhiên có thể mang các mức độ trọng lượng khác nhau tùy thuộc vào tác giả và hoàn cảnh mà chúng được làm ra. Hơn nữa, tỉ lệ của các bản đồ thường là quá nhỏ không cho thấy rõ ràng các khu vực cụ thể đang là chủ đề của tranh chấp, trong khi các bản đồ khác đủ lớn có thể chỉ ra các khu vực tranh chấp đầy đủ chi tiết.

[112] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, chú thích 88 trang 1089, para. 4.67. Earlier on in that case (trang 1076, para. 3.21), Ủy ban cũng nêu: “một bản đồ … với tỉ lệ quá nhỏ đến nỗi việc nhập vào sẽ trở thành một vấn đề phải suy xét hơn là sự quan sát chính xác, khó có thể có giá trị pháp lý hay bằng chứng cao.” Xem thêm Case Concerning the Location of Boundary Markers in Taba (Egypt/Israel), Decision of 29 September 1988, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 1 trang 48, para. 184: Tòa án không xem xét các chỉ dẫn dựa trên bản đồ là thuyết phục vì tỉ lệ của bản đồ (1:100,000) là quá nhỏ để thể hiện một vị trí trên mặt đất chính xác theo yêu cầu trong những trường hợp này, trong đó khoảng cách giữa vị trí các trụ đang tranh chấp đôi khi chỉ một vài mét. Dispute Concerning the Course of the Frontier Between BP 62 and Mount Fitzroy (“Laguna del Desierto”) (Argentina/Chile), Resolution of 13 October 1995, [1999] 113 International Law Reports 1 at 224: Ngay từ đầu, một số quan sát được lưu ý đến về các bản đồ tỉ lệ 1/10 000 do Chile đệ trình. Những bản đồ này được vẽ với một tỉ lệ lớn hơn đáng kể hơn so với bản đồ của Ủy ban Ranh giới hỗn hợp hoặc những bản đồ kèm theo đệ trình yêu sách chủ quyền của Chile ngày 31 tháng năm 1995, cung cấp một biểu diễn chính xác về địa hình thực sự của mặt đất

[113] Maurice KAMTO, “Sur quelques questions techniques liées à la détermination du tracé d’une frontière maritime de´limitée” in Rafael CASADO RAIGON and Giuseppe CATALDI, eds., L’évolution et l’état actuel du droit international de la mer. Mélanges de droit de la mer offerts à Daniel Vignes (Brussels: Bruylant, 2009), 481 at 493–6, tác giả đưa ra một tường trình chi tiết về những khó khăn nghiêm trọng mà Cameroon và Nigeria gặp phải sau đó do việc ICJ trong đánh giá của mình đã dựa trên một biểu đồ Hải quân Anh không chứa bất kỳ chỉ dẫn của mốc đo lường được dùng nào.

[114] Beagle Channel, chú thích 100 trang 164, para. 137. Xem thêm John G. MERRILLS, “The International Court of Justice and the Adjudication of Territorial and Boundary Disputes” (2000) 13 Leiden Journal of International Law 873 at 875, nêu: “về các vấn đề ranh giới và lãnh thổ các bản đồ có khả năng cung cấp bằng chứng về tình hình trên mặt đất và thái độ của các nước có liên quan đối với nó”; Henry DARWIN, “Judicial Settlement” in Evan LUARD, ed., The International Regulation of Frontier Disputes (London: Thames & Hudson, 1970), 198 at 207–8.

[115] Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), [1962] I.C.J. Reports 6 at 23.

[116] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, chú thích 88 trang 1075–6, para. 3.22. Một cách tượng tự Uỷ ban nhận thấy rằng (trang 1076, para. 3.21): Tuy nhiên, một bản đồ do một cơ quan chính phủ của một bên vẽ ra, theo một tỉ lệ đủ để cho phép miêu tả khu vực biên giới tranh chấp là nhận biết được, thường có thể mua được hoặc kiểm tra được, dù tại nước xuất xứ hoặc ở nơi khác, và bên bị ảnh hưởng bất lợi hành động dựa trên nó, hoặc không phản ứng đối với nó, có thể được dự kiến là sẽ có hậu quả pháp lý quan trọng.

[117] Nicaragua v. Honduras, chú thích 58 trang 735, para. 253.

[118] Strupp, chú thích 63 trang 17.

[119] Ibid., trang 17, note 98.

[120] Yehuda Z. BLUM, Historic Titles in International Law (The Hague: Nijhoff, 1965) trang 150.

[121] Li and Li, chú thích 4 trang 290. Xem thêm “Carps Among the Spratlys” The Economist (10 March 2011), online: The Economist http://www.economist.com/node/18332702?story_id518332702, nêu: “TQ trỏ vào một bản đồ dùng từ thời THDQ công bố trong cuộc nội chiến những năm 1940 và nói rằng cho tới gần đây không ai quan tâm (minded).”

[122] Zhao, chú thích 33 trang 22, được dịch lại trong Li and Li, chú thích 4 trang 292.

[123] Như lập luận trong bài viết do Nguyễn Hồng Thao trình bày tại Hội thảo quốc tế lần hai, nhan đề là “The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development”, tổ chức vào 10–12 /12/ 2010 tại tp Ho Chi Minh, Vietnam: “South China Sea—Three Stages, Four Challenges, Two Regional Approaches and One Confidence” trang 12–13. On file with the authors.

[124] UN, “Vietnam: Dispute Regarding the Law on the Exclusive Economic Zone and the Continental Shelf of the CHNDTH which was Passed on 26 June 1998” (1998) 38 Law of the Sea Bulletin 54 at 55.

[125] Vietnam, “Letter to the Secretary-General of the United Nations—86/HC-2009” (8 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_re_chn_2009re_vnm.pdf.

[126] Vietnam, “Viet Nam Request the Chinese Side to Remove from SBSM Map Service All Data and Information that Violate Viet Nam’s Sovereignty” (5 November 2010), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn; Vietnam, “Viet Nam Asks China to Remove Wrongful Data in Its SBSM Map Service” (26 January 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn.

[127] Vietnam, “Foreign Ministry Spokesperson Nguyen Phuong Nga Answers Question from the Media at the Press Conference on June 9th 2011 Concerning the Viking II Incident” (9 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairshttp://www.mofa.gov.vn, nêu ‘”những hành vi có hệ thống của phía TQ nhằm tranh chấp một khu vực không có tranh chấp với mục tiêu hiện thực hoá yêu sách ‘đường 9 chấm’ [sic], một mục tiêu không thể chấp nhận đối với Việt Nam”; Vietnam, “Press Conference on Chinese Maritime Surveillance Vessel’s cutting exploration cable of PetroViet Nam Seismic Vessel” (1 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu “Đường chín vạch của TQ ở Biển Đông, còn gọi là ‘đường lưỡi bò’ là hoàn toàn không có căn cứ hợp pháp và trái với Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển mà Trung Quốc là một thành viên. Yêu sách chủ quyền này xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, và do đó nhiều quốc gia bác bỏ. Việc TQ cố thực hiện tuyên bố này thực tế làm căng thẳng tăng lên trong khu vực.”

[128] Meeting of States Parties to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, “Twenty-First Meeting” (13–17 June 2011), online: UN Office of Legal Affairs, Division for Ocean Affairs and the Law of the Seahttp://www.un.org/Depts/los/meeting_states_parties/twentyfirstmeetingstates parties.htm (as further substantiated by participants in that meeting).

[129] . Pensions of Officials of the Saar Territory (Germany, Governing Commission of the Saar Territory), Award of 4 September 1934, [2006] III Reports of International Arbitral Awards 1553 at 1567, nêu: “quyền phản đối của Chính phủ đó chỉ có được vào thời điểm khi mà họ biết về các sự kiện đó”; Fisheries Case, chú thích 66 trang 139; Nuno Sérgio MARQUES ANTUNES, “Acquiescence” in Wolfrum, ed., chú thích 34, 4, para. 21; D.H.N. JOHNSON, “Acquisitive Prescription in International Law” (1950) 27 British Yearbook of International Law 332 at 347, nêu: “nếu không biết thì không thể có sực mặc nhận nào cả”; Jean BARALE, “L’acquiescement dans la jurisprudence internationale” (1965) 11 Annuaire franc¸ais de droit international 389 at 400: “việc mặc nhận chỉ có thể liên quan đến một tình huống đã được nước mặc nhận biết đến’, và 401–4; I.C. MACGIBBON, “The Scope of Acquiescence in International Law” (1954) 31 British Yearbook of International Law 143 at 173, nêu: “mệnh đề cho rằng việc chiếm hữu mà quyền sở hữu theo thời hiệu (prescription: thụ đắc qua việc thực thi chủ quyền trên thực tế và duy trì trong một khoảng thời gian hợp lý mà không có sự phản đối của nước khác – ND ) dựa vào phải thoả yêu cầu của trạng thái rõ ràng (notoriety) là hiếm khi đáng ngờ”, and 174–6.

[130] Barale, chú thích 129 trang 404–6.

[131] Martti KOSKENNIEMI, “L’affaire du passage par le Grand-Belt” (1992) 38 Annuaire français de droit international 905 at 931; Fisheries Case, chú thích 66 trang 138; Right of Passage over Indian Territory (Portugal v. India), [1960] I.C.J. Rep. 6 at 40. Xem thêm Land, Island and Maritime Frontier Dispute, chú thích 111 at 577, para. 364.

[132] Fisheries Case, chú thích 66 trang 138; Chamizal Case (Mexico v. United States), Award of 15 June 1911, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 309 at 329.

[133] Ví dụ. Hyung K. LEE, “Mapping the Law of Legalizing Maps: The Implications of the Emerging Rule on Map Evidence in International Law” (2005) 14 Pacific Rim Law and Policy Journal 159 at 159–75, 188; Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 438–9.

[134] Abou-el-Wafa, chú thích 37 trang 128–9.

[135] Xem generally Sam BATEMAN and Ralf EMMERS, eds., Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime (Abingdon: Routledge, 2009).

[136] Đối với một tổng quan về các phương pháp hội thảo và sự thành công của nó, xem SONG Yann-Huei, “The South China Sea Workshop Process and Taiwan’s Participation” (2010) 41 Ocean Development and International Law 253 at 256–60.

[137] Xem chẳng hạn. Aldo CHIRCOP, “Regional Cooperation in Marine Environmental Protection in the South China Sea: A Reflection on New Directions for Marine Conservation” (2010) 41 Ocean Development and International Law 334; John W. MCMANUS, SHAO Kwang-Tsao, and LIN Szu-Yin, “Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park: Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an Emphasis on the Role of Taiwan” (2010) 41 Ocean Development and International Law 270; TUAN Vo Si and John PERNETTA, “The UNEP/GEF South China Sea Project: Lessons Learnt in Regional Cooperation” (2010) 53 Ocean and Coastal Management 589 SONG Yann-Huei, “AMarine Biodiversity Project in the South China Sea: Joint Efforts Made in the SCS Workshop Process” (2011) 26 International Journal of Marine and Coastal Law 119.

[138] Robert C. BECKMAN, “Joint Development of Hydrocarbon Resources in the South China Sea: International Legal Framework” (16–17 June 2011), online: National University of Singapore—Centre for International Lawhttp://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2011/06/Session-2-Beckman- Session-2-CIL-JD-SCS-pdf.pdf. Xem chẳng hạn. Memorandum of Understanding between Malaysia and the Socialist Republic of Vietnam for the Exploration and Exploitation of Petroleum in a Defined Area of the Continental Shelf Involving the Two Countries, 5 June 1992 (entered into force 4 June 1993), online: NUS-CIL http://cil.nus.edu.sg/1992/1992-memorandum-of-understanding-between-malaysia-and-thesocialist- republic-of-vietnam-for-the-exploration-and-exploitation-of-petroleum-in-a-defined-area-of-thecontinental- shelf-involving-the-two-c/.

[Nguồn: Blog Song Phan]

 

Đăng tải tại Chủ quyền biển đảo | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Ý TƯỞNG CHIẾN LƯỢC MỚI NHẤT CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRUNG HOA VỀ TAM CHỦNG CHIẾN PHÁP

Tác giả: Elsa Kania

China Brief Volume: 16 Issue: 13

Biên dịch: Bùi Thạch Hồng Hưng

Phản ứng của Bắc Kinh trước phán quyết bất lợi của Tòa trọng tài về vụ kiện Biển Đông đã làm nổi bật một khía cạnh quan trọng trong chiến lược quân sự của nước này, đó là “tam chủng chiến pháp” (三战). Bao gồm mặt trận truyền thông (舆论战), mặt trận tâm lý (心理战), và mặt trận pháp lý (法律战), tam chủng chiến pháp đã trở thành những thành tố cốt yếu trong tiếp cận chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông và xa hơn thế. Vào thời bình cũng như thời chiến, việc áp dụng tam chủng chiến pháp là nhằm mục đích kiểm soát những cuộc tranh luận hiện hành và gây tác động vào nhận thức theo hướng có lợi cho Trung Quốc, đồng thời gây tổn thương năng lực đáp trả của các đối thủ.

Bắc Kinh đã tìm cách vô hiệu hóa quá trình tố tụng và đã đạt thành công nhất định trong việc làm suy yếu sự thống nhất của đồng thuận ủng hộ phán quyết, cùng lúc đưa ra tín hiệu cưỡng chế và các hành động từ chối nhằm trừng phạt Philippines. Phản ứng của Trung Quốc cũng bao gồm “chính quy hóa” “đội tuần tra tác chiến” trên Biển Đông bằng máy bay ném bom H-6K, cũng như các đòn Tấn công Từ chối Dịch vụ phân tán (DDoS) chống lại các trang mạng của chính phủ Philippines (China Brief, ngày 4/2). Vào năm 2005, Quân uỷ Trung ương Trung Quốc (Central Military Commission) đã phê chuẩn – và các văn phòng Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, và Tổng cục Vũ khí cùng nhau ban hành rộng rãi- những hướng dẫn chính thức (gọi là gangyao, 纲要, mang nghĩa “phác thảo” hay “thiết yếu”) cho mặt trận truyền thông, mặt trận tâm lý và mặt trận pháp lý, trong đó chính thức tích hợp các khái niệm này vào giáo dục, huấn luyện và trù bị của Quân đội Nhân dân Trung Hoa (PLA) cho các cuộc chiến đấu quân sự[1]. Mặc dù những gangyao này không được công bố rộng rãi, nguồn tham khảo mở của PLA về tam chủng chiến pháp, tính từ giữa những năm 2000, đã cung cấp một nguồn tư liệu có giá trị cho phân tích và so sánh[2].

Một vài tài liệu gần đây cho thấy quan điểm của chính quyền về tam chủng chiến pháp và mô tả các mức độ hội nhập của nó trong tư duy chiến lược và chương trình đào tạo cán bộ của PLA. Những tài liệu này bao gồm các phiên bản mới nhất của những ấn phẩm có sức ảnh hưởng của PLA về chiến lược quân sự, phiên bản Khoa học của Chiến lược Quân sự (SMS, 战略学) năm 2013 của Học viện Khoa học Quân sự (AMS) và SMS năm 2015 của Đại học Quốc phòng Quốc gia (NDU), cũng như giáo trình giảng dạy được sử dụng bởi NDU, Nhập môn Mặt trận Truyền thông, Mặt trận Tâm lý và Mặt trận Pháp lý (舆论战心理战法律战概论)[3] Các tài liệu này cho thấy việc Trung Quốc sử dụng tam chủng chiến pháp để chuẩn bị về mặt nhận thức cho chiến trường được xem là tối quan trọng nhằm hướng tới đạt được lợi ích trong cả thời bình lẫn thời chiến.

Ba tài liệu chiến lược học đáng chú ý về Tam chủng chiến pháp

Chiến lược Quân sự học 2013 (2013 Science of Military Strategy [军事科学院军事战略研究部])

Phiên bản AMS SMS 2013 đã nêu bật vai trò của tam chủng chiến pháp như một lực lượng đa nhiệm trong các hoạt động quân sự cũng như trong nhiều bối cảnh chính trị và ngoại giao tương tự[4]. Đặc biệt, tài liệu này đã giới thiệu khái niệm huayuquan (话语权) thông qua việc sử dụng thông tin, niềm tin và tâm lý (信息一信仰一心智). Mặc dù trong cách sử dụng phổ quát và bình dân hơn, cụm từ này dường như để ám chỉ “quyền phát biểu” hay “tự do ngôn luận”, từ quan (权) trong văn cảnh này dường như không phải theo nghĩa về các quyền (权利) mà là về sức mạnh hoặc uy quyền (权力). Theo đó, khái niệm này đề cập đến năng lực kiểm soát diễn biến câu chuyện trong một kịch bản sắp sẵn, và do đó có thể được dịch thành “quyền lực diễn ngôn”[5] Để giành thắng lợi, huayuanqian đòi hỏi “vận dụng tích hợp” mặt trận truyền thông, mặt trận tâm lý và mặt trận pháp lý. Các hoạt động của tam chủng chiến pháp nên bổ sung và củng cố lẫn nhau trong những cuộc chiến tranh tương lai hoặc trong các cuộc đấu tranh chính trị và ngoại giao.

Theo tài liệu này, việc sử dụng tam chủng chiến pháp trong từng tình huống cụ thể nên được áp dụng dựa trên bối cảnh trận đánh và kết quả mong muốn. Cụ thể, các tác giả lập luận rằng việc đạt được sự ủng hộ và tình cảm của dư luận quốc tế, trong lúc giành lấy thế chủ động bằng con đường ngoại giao, có thể “cung cấp một cột trụ quyền lực cho toàn bộ trận đánh”. Ví dụ, nếu cần phải che giấu mục đích trận đánh, sử dụng công cụ tuyên truyền để gây ảnh hưởng lên công luận có thể củng cố kế “dương Đông kích Tây” (声东击西)[6]. Cũng tương tự vậy, các cuộc triển khai tam chủng chiến pháp có thể có một “lực lượng áp chế tâm lý” (心理震慑力) chống lại kẻ thù. Mặc dù tài liệu này không định nghĩa tam chủng chiến pháp hay thảo luận chi tiết hơn về việc sử dụng chúng, việc tập trung vào tầm quan trọng của chúng, bao gồm cả các mánh khoé lừa bịp, đã cho thấy có một sự công nhận về ứng dụng tiềm tàng của tam chủng chiến pháp trong một loạt các tình huống thuộc một phạm vị nhất định.

Nhập môn Mặt trận Truyền thông, Mặt trận Tâm lý và Mặt trận Pháp lý 2014 (2014 Introduction to Public Opinion Warfare, Psychological Warfare, and Legal Warfare [舆论战心理战法律战概论])

Tài liệu này, vốn nhằm phục vụ cho mục đích giảng dạy (学科教材) của NDU, đã trình bày tổng thể về tam chủng chiến lược một cách chỉnh chu, bao gồm cả các nhiệm vụ chính yếu, phát triển mang tính lịch sử, nền tảng lý thuyết, những nguyên tắc, cách áp dụng và các chiến thuật cơ bản[7]. Tài liệu đã miêu tả những nỗ lực bền bỉ của NDU để phát triển một “tam chủng chiến pháp học” (“三战”学), được xem như một “bước cách tân quan trọng” trong công trình chính trị của PLA, và để tích hợp các khái niệm này vào chương trình giảng dạy của trường[8]. Điều này được thể hiện qua việc họ nghiên cứu nhiều tiền lệ khác nhau về truyền thống, lý tưởng và đương đại, từ sự nhấn mạnh của người Trung Quốc cổ đại trong việc sử dụng “mánh khóe” (谋略) cho đến sự tham gia của quân đội Mỹ vào các hoạt động tương tự. Ở cấp độ cơ bản, mục đích chính của tam chủng chiến pháp là nhằm gây ảnh hưởng và tấn công tâm lý đối phương thông qua các “vũ khí” là thông tin cụ thể và truyền thông. Đặc biệt, tam chủng chiến pháp được cho là tối quan trọng để tăng cường “quyền lực mềm” (软实力) của PLA và góp phần vào chiến thắng trong những cuộc chiến tranh tương lai. Khi chiến tranh đã hướng tới thông tin hoá nhiều hơn, (信息化), tam chủng chiến pháp rõ ràng đã đạt được “bước đột phá” vượt ra khỏi “mô hình và phạm vi truyền thống”, trở thành một khía cạnh “hữu cơ” trong chiến pháp và chiến lược quốc gia.

Trong khi tam chủng chiến pháp “tràn ngập” “cả khóa học” về đấu tranh quân sự, chức năng của chúng cũng đã được mở rộng và thích ứng với các nhiệm vụ quân sự ngày càng được “đa dạng hóa” của PLA. Cụ thể, các chức năng liên quan bao gồm:

  • Kiểm soát công luận (舆论控制)
  • Làm suy yếu sự quyết tâm của đối thủ (意志挫伤)
  • Chuyển đổi cảm xúc (情感转化)
  • Định hướng tâm lý (心智诱导)
  • Làm sụp đổ tổ chức (của đối thủ) (组织瓦解)
  • Phòng hộ tâm lý (心理防御)
  • Hạn chế thông qua luật (法律制约)

Trong bối cảnh rộng hơn, những sứ mệnh chính là nhằm chiếm lĩnh “cơ hội có tính quyết định” (先机) trong kiểm soát công luận, tổ chức tấn công và phòng vệ tậm lý, tham gia vào các cuộc chiến pháp lý, và chiến đấu vì nguyện vọng nhân dân và công luận. Dưới sự bảo hộ của các sứ mệnh này, cần phải có nỗ lực đoàn kết tư tưởng quân sự và dân sự, chia cắt địch thành những nhóm nhỏ, làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của địch, và tổ chức tấn công pháp lý.

Theo tài liệu này, việc thực hiện tam chủng chiến pháp nên được định hướng bởi các nguyên lý cơ bản nhất định. Những nguyên lý này nhấn mạnh sự tích hợp [tam chủng chiến pháp] với các vấn đề chính trị trong nước và ngoại giao; xoay quanh việc triển khai các chiến dịch quân sự; nhanh chóng lợi dụng “cơ hội có tính quyết định” (先机); tham gia vào tấn công và phòng thủ và chú trọng về tấn công; và kết hợp giữa hoà bình và chiến tranh (平战结合). Những nguyên tắc này hướng đến nâng cao khả năng tiếp cận đồng bộ cao bao gồm chủ động chuẩn bị về nhận thức trong thời bình để có thể cho phép PLA nhanh chóng giành lấy thế chủ động trong viễn cảnh khủng hoảng hoặc xung đột.

Về tổng thể, tài liệu này của NDU đã nhấn mạnh trọng tâm của PLA trong các khía cạnh thông tin, phi động học của chiến tranh hiện đại và những nỗ lực rộng lớn nhằm tạo nên một lối tiếp cận lý thuyết phức hợp, tập trung vào vận dụng, giáo dục, huấn luyện và kiến tạo một lực lượng chuyên ngành. Vượt ra khỏi lối áp dụng truyền thống của tam chủng chiến pháp, tài liệu này cũng trình bày những nỗ lực đổi mới việc áp dụng các khái niệm này vào những bối cảnh mới, như chống khủng bố và bảo vệ sự ổn định (反恐维稳), gìn giữ hòa bình quốc tế, bảo vệ giao thông và hộ tống (保交护航), hay đóng và kiểm soát biên giới (封边控边).

Chiến lược Quân sự học 2015 (The Science of Military Strategy [战略学])

Phiên bản NDU SMS 2015 cung cấp một cái nhìn tổng quan về mặt trận truyền thông, mặt trận tâm lý và mặt trận pháp lý, cùng hướng dẫn liên quan đến việc áp dụng các mặt trận này. Theo tài liệu này, mặt trận truyền thông bao gồm việc sử dụng công luận như một vũ khí bằng cách tuyên truyền thông qua nhiều hình thức truyền thông khác nhau nhằm làm suy yếu “ý chí chiến đấu” (战斗意志) của đối phương, trong khi đảm bảo sức mạnh ý chí và đoàn kết giữa quan điểm quân sự và dân sự ở phía ta. Mặt trận tâm lý tìm cách làm suy yếu sức mạnh chiến đấu, tính quyết tâm và quá trình đưa ra quyết định của đối phương, trong khi cường điệu hóa các mâu thuẫn nội bộ khiến đối phương bị tan vỡ (阵营). Mặt trận pháp lý hình dung việc sử dụng tất cả các khía cạnh của luật, bao gồm tư pháp, công pháp và luật chiến tranh nhằm mục đích bảo đảm cho việc giành lấy “lợi thế nguyên tắc pháp lý” (法理优势) và bác bỏ tính hợp pháp của đối phương. Mỗi thành phần của tam chủng chiến pháp được triển khai trong lãnh vực nhận thức (认知领域) và dựa vào thông tin để tạo nên tính hiệu quả.

Tài liệu SMS 2015 nhấn mạnh “mối liên kết chặt chẽ” của tam chủng chiến pháp như “một chỉnh thể” có thể được sử dụng một cách tổng hợp. Từ góc độ của tác giả, mặt trận truyền thông và mặt trận pháp lý triển khai chủ yếu ở mức độ chiến lược, trong khi mặt trận tâm lý thường được áp dụng ở mức độ chiến thuật và chiến dịch. Nếu được áp dụng hiệu quả, tam chủng chiến pháp sẽ có tiềm năng thiết lập những điều kiện có lợi để giành được thành công trên chiến trường và chiến thắng cuối cùng.

Đối với mặt trận truyền thông, các yêu cầu được phác thảo là “làm nhụt chí đối phương bằng cách phô trương sức mạnh” (先声夺人), “tạo đà để kiểm soát tình thế” (造势控局), “tấn công các điểm chiến lược” (抨击要害), và “tìm cách hạn chế tổn thương” (趋利避害). Cụ thể, điều tối quan trọng là phải trở thành người đầu tiên đưa ra thông tin trong một sự kiện bất ngờ và tích cực định hướng công chúng nhằm đạt được và bảo lưu thế chủ động trên “chiến trường công luận”. Ngoài việc khai thác lỗi của đối phương, còn cần phải phản công những nỗ lực của đối phương tham gia vào mặt trận truyền thông. Ví dụ về lối tiếp cận này đã được phản ảnh trong những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm gây ảnh hưởng lên dư luận trong nước và quốc tế về vai trò của Mỹ tại châu Á. Một mặt Trung Quốc cáo buộc Mỹ là nguyên nhân của các căng thẳng trong khu vực cũng như việc “quân sự hoá” các tranh chấp lãnh thổ trên biển, Trung Quốc cũng đồng thời thường xuyên lên án “bá quyền” cũng như mưu cầu “an ninh tuyệt đối” của Mỹ.

Các nguyên tắc được mô tả rõ ràng cho mặt trận tâm lý tập trung vào “tích hợp lẫn nhau giữa [tấn công tâm lý] và tấn công vũ trang” (与武力打击相结合), “triển khai tấn công và phòng vệ cùng lúc, trong đó tấn công được ưu tiên hơn” (攻防并举以攻为主), và “sử dụng tổng hợp đa dạng các đội hình lực lượng” (综合运用各种力量). Liên quan đến vấn đề này, mặt trận tâm lý được hình dung là gắn chặt với tất cả các loại hình và giai đoạn của chiến dịch quân sự nhằm tăng cường tính hiệu quả của các cuộc tấn công truyền thống. Việc áp dụng mặt trận tâm lý cũng nên tập trung vào lợi dụng “thời khắc quyết định” và “ra đòn phủ đầu” để giành lấy thế chủ động, dựa vào nỗ lực của đội hình đa dạng các lực lượng của mặt trận tâm lý, trong đó có cả lực lượng vũ trang, hậu cần và xã hội. Ví dụ phản ánh lối tiếp cận này là sự tăng cường áp lực tâm lý chống lại cũng như mưu toan hăm doạ Đài Loan trong nhiều thời điểm căng thẳng hoặc khủng hoảng, đặc biệt là trong suốt giai đoạn cầm quyền gần đây của bà Thái Anh Văn, vốn được triển khai bởi “Căn cứ Tam chủng Chiến Pháp” của Quân đội Trung Quốc, Căn cứ 311 ở Phúc Châu (China Brief, Ngày 21/4). Quân đội Trung Quốc dường như đang trong quá trình hướng đến ban hành chính thức học thuyết thế hệ thứ năm, và những phác thảo chiến dịch cơ bản (战役纲要) và quy tắc chiến tranh (战斗条令) có thể bao gồm hướng dẫn sửa đổi trong việc thực hiện tam chủng chiến pháp, dựa theo trọng tâm gần đây của PLA trong việc nâng cao khía cạnh “khoa học” trong tam chủng chiến pháp. Mặc dù tư liệu về vấn đề này còn hạn chế, ba tài liệu chiến lược học được phân tích ở trên đã cho thấy những quan điểm mới nhất của PLA trong diễn tiến phát triển tư duy chiến lược về tam chủng chiến pháp và từ đó có thể cung cấp các phân tích về việc thực hiện các khái niệm này của PLA.

Chú thích

[1] Wu Jieming [吴杰明] and Liu Zhifu [刘志富], An Introduction to Public Opinion Warfare, Psychological Warfare, [and] Legal Warfare [舆论战心理战法律战概论], National Defense University Press, 2014, p. 1.

[2] Về các cuộc tranh luận trước đây về tam chủng chiến pháp, xem:Mark Stokes and Russell Hsiao, “The People’s Liberation Army General Political Department Political Warfare with Chinese Characteristics,” Project 2049, October 14, 2013. “China: The Three Warfares,” prepared for Andrew Marshall, Director of the Office of Net Assessment, by Professor Stefan Halper, May 2013. Dean Cheng, “Winning Without Fighting: Chinese Legal Warfare,” Heritage Foundation, May 21 2012. Dean Cheng, “Winning Without Fighting: Chinese Public Opinion Warfare and the Need for a Robust American Response,” Heritage Foundation, November 26, 2012. Dean Cheng, “Winning Without Fighting: The Chinese Psychological Warfare Challenge,” Heritage Foundation, July 12, 2013.

[3] Chiến lược Quân sự học (The Science of Military Strategy [SMS]) là một tài liệu nhà nước, được sử dụng trong công tác giảng dạy cho sĩ quan cấp cao của PLA, thể hiện rõ tư tưởng của PLA về các bối cảnh và cơ chế đa nhiệm trong chiến lược quân sự. Phiên bản mới nhất AMS của SMS là trọng tâm của quyển sách gần đây (Joe McReynolds, China’s Evolving Military Strategy, Jamestown Foundation, 2016), nhưng có ít phân tích hơn được công bố về phiên bản 2015 của NDU. Vì AMS đóng vai trò trực tiếp hơn trong tạo dựng chiến lược quân sự, tài liệu SMS 2013 có tính thẩm quyền nhiều hơn so với phiên bản năm 2015. Dù vậy, phiên bản của NDU cũng trình bày những quan điểm gần đây và có lẽ có ảnh hưởng đáng kể đáng để nghiên cứu sâu hơn. Đồng thời, cũng cần phải nhắc lại rằng các văn bản này chủ yếu mang tính lý thuyết và phản ánh quan điểm của một số viện nghiên cứu có ảnh hưởng, hơn là quan điểm chung của toàn bộ Quân đội Trung Quốc. Theo đó, nội dung của các tài liệu này về tam chủng chiến lược không nên được xem như là diễn xướng chính thức về lối tiếp cận chiến lược và học thuyết của PLA, mà nên được xem là những thành tố để thiết lập thêm những cuộc tranh luận lý thuyết về những khái niệm này mà có thể cung cấp thông tin cho các phân tích trong tương lai về đề tài này..

[4] Academy of Military Science Military Strategy Research Department [军事科学院军事战略研究部], eds., The Science of Military Strategy [战略学]. Military Science Press, 2013, p. 131.

[5] John Costello and Peter Mattis, “Electronic Warfare and the Renaissance of Chinese Information Operations,” in Joe McReynolds, China’s Evolving Military Strategy, Jamestown Foundation, 2016.

[6] Được lấy từ “36 kế”, vốn được cho là của Tôn Tử và Gia Cát Lượng, dường như bắt nguồn từ nhiều khía cạnh khác nhau trong lịch sử quân sự truyền miệng và viết của Trung Quốc.

[7] Wu Jieming [吴杰明] và Liu Zhifu [刘志富], Nhập môn Mặt trận Truyền thông, Mặt trận Tâm lý và Mặt trận Pháp lý [舆论战心理战法律战概论], NXB Đại học Quốc phòng Quốc gia, 2014, trang 1–7, 14–20, 62–69, 121–132, 133–143, 226.

[8] Tài liệu được xây dựng với sự giúp đỡ lớn từ NDU bắt đầu từ năm 2009 và được chấp bút bởi hội đồng học giả dưới sự đứng đầu của hai giáo sư cấp cao của NDU.

Elsa Kania vừa tốt nghiệp Đại học Harvard và đang làm việc như chuyên viên phân tích tại Nhóm Chiến Lược Dài Hạn.

Bùi Thạch Hồng Hưng là nghiên cứu sinh thạc sĩ lãnh vực Quan hệ quốc tế và là cộng tác viên của Dự án Đại Sự Ký Biển Đông.

Bản gốc tiếng Anh: https://jamestown.org/program/the-plas-latest-strategic-thinking-on-the-three-warfares/

[Nguồn: Dự án Đại Sự Ký Biển Đông]

Đăng tải tại Chủ quyền biển đảo | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC SỨ BỘ VIỆT NAM Ở TRUNG HOA THỜI THANH

 

Trần Đức Anh Sơn

I. CÁC SỨ BỘ DO TRIỀU ĐÌNH VIỆT NAM PHÁI SANG TRUNG HOA TỪ THẾ KỶ XVI ĐẾN THẾ KỶ XIX

Nhà bác học Lê Quý Ðôn, qua tác phẩm Bắc sứ thông lục viết về chuyến đi sứ sang Trung Hoa vào năm Canh thìn đời vua Lê Cảnh Hưng (1760) đã cung cấp những thông tin liên quan đến việc bang giao giữa Việt Nam và Trung Hoa trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVIII. Theo tư liệu này, vào năm Hồng Vũ thứ 7 (1374), nhà Minh (1368 – 1644) ban hành quy định: cứ ba năm một lần, nước ta phải cử sứ bộ mang cống phẩm sang Trung Hoa nộp cống. Sau khi nhà Thanh (1644 – 1911) diệt nhà Minh, vào năm 1663, vua Khang Hi (1662 – 1722) cũng theo nếp cũ, định lệ tam niên nhất cống (ba năm đi cống một lần) cho triều đình Đại Việt. Tuy nhiên, do đường sá xa xôi cách trở nên thể theo yêu cầu của triều đình nhà Lê, vào năm 1668, vua Khang Hi đổi lệ trên thành lục niên lưỡng cống (sáu năm mới sai sứ đi cống một lần nhưng mang gộp lễ vật của cả hai kỳ tuế cống).1

Chưa có tư liệu nào thống kê đầy đủ về những sứ bộ do triều đình nhà Lê cử sang Trung Hoa, tuy nhiên, từ những thông tin trong bộ sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú2, kết hợp đối chiếu các biên khảo: Sứ thần Việt Nam3Les bleu Trịnh (XVIIIe siècle)4, tôi tạm thời xác định vào giai đoạn các chúa Trịnh nắm quyền ở Đàng Ngoài, đã có ít nhất là 38 sứ bộ được cử sang Trung Hoa (dưới danh nghĩa sứ thần của triều Lê). Cụ thể như sau:

– Triều Trịnh Tùng (1570 – 1623) có 4 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Tráng (1623 – 1657) có 5 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Tạc (1657 – 1682) có 5 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Căn (1682 – 1709) có 4 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Cương (1709 – 1729) có 6 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Giang (1729 – 1740) có 4 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Doanh (1740 – 1767) có 6 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Sâm (1767 – 1782) có 3 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Cán (1782) không có sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Khải (1782 – 1786) có 1 sứ bộ đi sứ.

– Triều Trịnh Bồng (1787 – 1788) không có sứ bộ đi sứ.

Nhiệm vụ chủ yếu của các sứ bộ này là đi cống theo định kỳ, đồng thời, kết hợp mua sắm hàng hóa, vật dụng phục vụ các nhu cầu của triều đình Lê – Trịnh.

Ở Đàng Trong, tuy thiết lập triều đình riêng, nhưng với vị thế là bề tôi của triều Lê nên các chúa Nguyễn không thể “tự tung tự tác” sai sứ sang Thanh. Mãi cho đến năm 1701, sau khi hai phe Trịnh – Nguyễn tạm ngưng các cuộc giao tranh kéo dài hơn 6 thập kỷ, lấy sông Gianh làm giới tuyến phân lập Đàng Ngoài – Đàng Trong, thì chúa Nguyễn Phúc Chu mới sai Hoàng Thần và Hưng Triệt đem quốc thư và cống phẩm sang Trung Hoa, yêu cầu nhà Thanh phong cho ông làm vua một quốc gia riêng biệt, tách khỏi thực thể chính trị do vua Lê – chúa Trịnh cầm quyền ở Đàng Ngoài. Nhà Thanh không chấp thuận yêu cầu này do e ngại sự lớn mạng của Đàng Trong sẽ là một cho Đại Thanh ở phương Nam.5 Đó là sứ bộ duy nhất do các chúa Nguyễn phái sang Trung Hoa trong hơn 200 năm họ “mưu bá đồ vương” ở Đàng Trong.

Thời Tây Sơn (1788 – 1801), theo các nguồn sử liệu hiện tồn, chỉ có bốn sứ bộ được phái sang Thanh vào các năm 1789 và 1792. Sứ bộ thứ nhất đi ngay sau khi vua Quang Trung (1788 – 1802) vừa đánh bại quân xâm lược nhà Thanh (1789), đem thư của vua (do Ngô Thì Nhậm soạn) sang xin giảng hòa với nhà Thanh. Sứ bộ thứ hai do Nguyễn Quang Hiển và Vũ Huy Tấn dẫn đầu, cũng đi trong năm 1789, mang cống phẩm sang Bắc Kinh vào chầu vua Càn Long (1736 – 1795) và dâng biểu xin phong cho vua Quang Trung là An Nam quốc vương.6 Phái đoàn thứ ba do Phạm Công Trị (đóng giả vua Quang Trung)7 dẫn đầu, cùng Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích… sang tạ ân vua Càn Long đã chấp thuận giảng hòa và phong vương cho vua Quang Trung.8 Sứ bộ thứ tư đi vào năm 1892, sang xin cầu hôn công chúa nhà Thanh cho vua Quang Trung và yêu cầu nhà Thanh trả lại cho Việt Nam đất Lưỡng Quảng.9

Năm 1792, vua Càn Long ban cho triều đình Tây Sơn một chỉ dụ mới quy định về thời hạn tuế cống10 và nhắc lại thời hạn này trong một chỉ dụ khác ban hành vào năm 1803 sau khi vua Gia Long lập ra triều Nguyễn.11 Các chỉ dụ mới này quy định như sau:

– Triều đình An Nam, sau này là Việt Nam (từ 1804 đến 1838), rồi Ðại Nam (từ 1838 đến 1945), cứ hai năm một lần phải gửi đồ tuế cống cho Trung Hoa và cứ bốn năm phải có một sứ bộ sang chầu.12

– Việt Nam cũng phải cử sứ bộ đến Bắc Kinh mỗi khi có hoàng đế Trung Hoa thăng hà (để phúng điếu) và mỗi khi có hoàng đế mới đăng quang (để chúc mừng).

Ngoài ra, Việt Nam còn cử sứ bộ sang nước Thanh trong các trường hợp sau:

– Báo tang một vị vua Việt Nam vừa mất;

– Xin phong vương cho vị vua mới lên ngôi và sau đó phải có sứ bộ sang cám ơn về việc được nhà Thanh phong vương;

– Đi chúc mừng sinh nhật hoàng đế và các thành viên trong hoàng gia nhà Thanh;

– Đi mua sắm vật dụng cho triều đình;

– Áp giải các tội phạm Trung Hoa trao trả cho Thanh triều;

– Đi truy bắt tội phạm trong nước chạy sang Trung Quốc…

Đến triều Tự Ðức (1848 – 1883), triều Nguyễn còn cử người qua Trung Quốc cầu viện để chống phỉ; để do thám hoạt động của các nước Âu tây ở Hương Cảng (như các chuyến đi của Ðặng Huy Trứ vào các năm: 1865, 1867 – 1868)13 và Thiên Tân (như chuyến đi của Phạm Thận Duật và Nguyễn Thuật vào năm 1882.14 Sau khi Kinh đô Huế thất thủ (5.7.1885), phong trào Cần Vương nổ ra, vua Hàm Nghi còn cử người sang Trung Hoa cầu viện để chống Pháp (như các chuyến đi của Nguyễn Quang Bích vào các năm: 1885, 1887).15 Các chuyến đi vì những mục đích này, sử sách triều Nguyễn thường dùng thuật ngữ “đi công vụ” thay vì “đi sứ”.

Dựa vào hai nguồn sử liệu chính thức do các sử quan triều Nguyễn biên soạn là Đại Nam thực lục (ĐNTL) và Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (KĐĐNHĐSL). cùng các tập “sứ trình thi” (thơ đi sứ) của các sứ thần đã được khảo cứu và giới thiệu trong bộ sách Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu16, kết hợp tham chiếu các biên khảo khác như: Chân dung các vua Nguyễn.17 Các sứ bộ do triều Nguyễn phái sang nhà Thanh18; Những ông nghè ông cống triều Nguyễn19, Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn20, Sứ thần Việt Nam21Les ambassades en Chine sous la dynastie des Nguyễn (1804 – 1924) et les bleu de Hué22, tôi xác định rằng vào thời Nguyễn, các vị vua: Gia Long (1802 – 1820), Minh Mạng (1820 – 1841), Thiệu Trị (1841 – 1847), Tự Ðức (1848 – 1883) và Khải Ðịnh (1916 – 1925) đã cử ít nhất 47 sứ bộ sang Trung Hoa với những mục đích khác nhau (Xem: Bảng thống kê số sứ bộ sang Trung Hoa thời Nguyễn). Riêng các triều vua từ Dục Ðức đến Duy Tân (từ năm 1883 đến năm 1916), không phái sứ bộ nào sang Trung Hoa vì nội tình Việt Nam trong giai đoạn này có nhiều rối ren và phải lo đối phó với họa xâm lăng của thực dân Pháp. Từ sau Hòa ước Giáp thân (1884), quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Hoa đã thực sự chấm dứt do áp lực của thực dân Pháp. Những phái bộ sang Trung Quốc vào các năm: 1921, 1924 và 1925 triều Khải Ðịnh không phải là những sứ bộ ngoại giao. Họ chỉ đến Quảng Ðông để đặt mua đồ sứ.

bang-thong-ke-di-su

Bảng thống kê các sứ bộ sang Thanh thời Nguyễn.

Bảng thống kê này cho thấy có rất ít các sứ đoàn được triều đình phái sang Trung Hoa với nhiệm vụ giao dịch thương mại thuần túy (chỉ 8 sứ bộ). Trong khi, hoạt động thương mại ở hải ngoại nhằm đáp ứng cho các nhu cầu tiêu dùng của hoàng gia, triều đình và quân đội là rất lớn. Con số thống kê ít ỏi này chưa phản ánh đúng các hoạt động thương mại giữa Việt Nam và Trung Hoa vào thời kỳ này là do trên thực tế phần lớn các sứ bộ sang Đại Thanh vì các nhiệm vụ ngoại giao đều kiêm nhiệm hoạt động giao dịch thương mại cho triều đình Việt Nam.

II. HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI CỦA CÁC SỨ BỘ VIỆT NAM KHI ĐI SỨ TRUNG HOA

1. Lộ trình đi sứ từ Việt Nam sang Trung Hoa và ngược lại

Theo sách KĐĐNHĐSL, đường đi sứ từ Việt Nam sang Trung Hoa bắt đầu từ Kinh đô Huế, theo đường bộ ra Hà Nội, lên Bắc Ninh, đến Lạng Sơn và qua ải Nam Quan vào đất Quảng Tây rồi vào sâu trong nội địa Trung nguyên. Trên đường đi, khi sứ bộ đi ngang tỉnh nào thì tỉnh ấy phải cử biền binh hộ tống sứ bộ. Lượt về cũng như thế nhưng theo trình tự ngược lại.23

Còn sứ nhà Thanh sang Việt Nam thì đi theo đường bộ qua ải Nam quan đến Bắc Thành (Hà Nội), rồi theo đường thủy để vào Kinh đô Huế qua các bến: Bắc Thành, Nam Định, Đồn Thủy (Thanh Hóa), Hồ Xá (Quảng Trị) rồi vào Huế. Khi đi ra cũng theo lộ trình ấy, hoặc đôi khi đi bộ ra tới Bắc Ninh rồi theo đường thủy trở về Trung Quốc.24

Trong cuốn sách Histoire des Relations de la Chine avec l’Annam – Việtnam du XVIe au XIXe siècle (Lịch sử quan hệ giữa Trung Hoa với Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX) của G. Devéria, nguyên là thông dịch viên thứ nhất của phái đoàn Pháp tại Trung Quốc và là thông tín viên của trường chuyên về các sinh ngữ phương Đông ở Pháp, xuất bản năm 1880 ở Paris, có công bố nội dung một chiếu chỉ do nhà Thanh ban hành năm 1667 liên quan đế lộ trình đi sứ từ Việt Nam sang Trung Hoa. Theo đó, sứ bộ đi cống của An Nam phải đi qua phủ Thái Bình vào tỉnh Quảng Tây. Năm 1726, Hoàng đế Ung Chính quyết định từ đó về sau, các sứ thần An Nam mang cống phẩm sẽ được cấp một giấy thông hành do tổng trấn Quảng Tây và đi đến Bắc Kinh bằng đường thủy băng qua các tỉnh: Hồ Quảng (Hồ Nam và Hồ Bắc), Giang Tây và Sơn Đông. Khi họ rời Kinh đô, người ta sẽ cấp cho họ một giấy thông hành mới để về theo đường cũ.25 Năm 1797, tổng đốc Lưỡng Quảng thông báo rằng An Nam cử sứ bộ mang cống phẩm đến và lần này các sứ thần An Nam thay đổi lộ trình đã định, đi bằng đường thủy qua Lưỡng Quảng, đến huyện Tiêu Tĩnh (Quảng Đông), sau đó lên bộ tại Sa Tĩnh (Giang Tây) và từ đó đi Bắc Kinh.26 Năm 1804, các phái viên An Nam mang cống phẩm đi bằng đường bộ qua ải Nam Quan, đến châu Bằng Tường (Quảng Tây), rồi từ đó theo đường thủy đến Bắc Kinh.27

Ngoài ra, trong cuốn sách này, G. Devéria cũng công bố tấm bản đồ Itinéraires de Chine en Annam (Những hành trình từ Trung Quốc đến Annam). Tấm bản đồ này được ghi chú là “Theo một bản đồ Trung Quốc được vẽ dưới thời các Hoàng đế Mông Cổ do Tschou-sse-peun xem lại, hiệu đính và công bố năm 1579”. Những chú giải trên tấm bản đồ này cho thấy: từ thế kỷ XV việc thông thương giữa Trung Hoa với Việt Nam (và ngược lại) thông qua ba ngã khác nhau:

– Qua ngã Quảng Tây – Lạng Sơn (đường bộ).

– Qua ngã Vân Nam – Lào Cai (đường bộ).

– Qua ngã Quảng Đông – Hải Dương (đường thủy).

Theo Devéria, từ Quảng Tây đến Việt Nam có 3 con đường:

* Con đường thứ nhất: Từ Bằng Tường (Trung Quốc) vượt qua ải Nam Quan, đi một ngày đường đến trạm Pha Lũy thuộc châu Văn Uyên (Việt Nam); hay đi qua phần phía bắc của châu Thoát Lãng (Việt Nam) để đến phủ Lạng Sơn sau một ngày, từ đó đi một ngày sẽ đến Đông Kinh (Hà Nội). Ngoài ra, từ phía bắc của Ôn Châu (Trung Quốc) qua Quỷ Môn Quan, đi một ngày đường đến thôn Tân Lệ (Việt Nam) và băng qua sông Nhị Thập, đi thêm một ngày đến huyện Bảo Lộc, rồi thêm một ngày rưỡi sẽ đến bên sông Xương, phải vượt qua sông này, đi thêm một ngày sẽ đến phía nam Thị Cầu của huyện An Việt, rồi về Đông Kinh theo đường bộ hoặc đường thủy.28

* Con đường thứ hai: Từ phủ Tứ Minh (Trung Quốc), vượt qua núi Ma Thiên Lĩnh đến châu Tứ Lăng (Trung Quốc), đi thêm một ngày qua ải Biện Cường đến châu Lộc Bình (Việt Nam). Ở phía tây của châu lỵ này có một con đường dẫn đến phủ Lạng Sơn sau một ngày đường. Nếu đi theo đường phía đông, thì phải vượt qua sông Thiên Lý, đi thêm một ngày rưỡi ta đến châu An Bác (Việt Nam). Từ đó, đi bộ một ngày rưỡi đến động Hao Quân; thêm một ngày đi bộ, sẽ đến huyện Phong Nhãn. Từ đây có hai con đường: đường thứ nhất đi đến huyện Bảo Lộc, rồi vượt sông Xương đi đến nam Thị Cầu thuộc huyện An Việt; đường thứ hai đi vào phủ Lạng Sơn (Việt Nam) và sau một ngày đi bộ cũng đến được Thị Cầu, rồi về Đông Kinh theo đường bộ hoặc đường thủy.29

* Con đường thứ ba: Từ huyện Long Châu (Trung Quốc) đi một ngày đến ải Bình Nhĩ. Vượt ải này đi thêm một ngày thì đến châu Thất Uyên (Việt Nam). Từ đó đi hai ngày cho đến huyện An Việt, rồi đi bộ một ngày đến phủ Từ Sơn, sau đó qua các huyện Đông Ngạn, Gia Lâm và các huyện khác, rồi băng qua sông Phú Lương để vào Đông Kinh.30

Từ Vân Nam đến Việt Nam có hai con đường:

* Con đường thứ nhất: Từ Mông Tự vượt qua thác Liên Hoa, người ta đi vào Annam qua Thạch Long Quan (tức cửa Đá Lũng); sau đó đi xuống đến động Trình Lan, vượt qua hữu ngạn sông. Tiếp tục đi bộ thêm bốn ngày đường sẽ đến châu Thủy Vĩ, rồi đi thêm tám ngày đến châu Văn Bàn. Từ đây đi tiếp năm ngày đến huyện Trấn An, rồi thêm năm ngày đến huyện Hạ Hoa. Từ Hạ Hoa đi ba ngày đến huyện Thanh Ba và đi thêm ba ngày đến phủ Lâm Thao, nằm trong lưu vực sông Phú Lương, nơi có con sông Thao ở phía bắc và con sông Đà ở phía nam. Từ Lâm Thao đi tiếp đến huyện Sơn Vi, đi thêm hai ngày là đến phủ Hưng Hóa, gặp thành cổ Đa Bang, rồi ngã ba Bạch Hạc tiếp nối với con sông Phú Lương và xuôi theo dòng sông này về đến Đông Kinh.31

* Con đường thứ hai: Từ ải Hà Dương (Trung Quốc) ở phía lưu vực hữu ngạn sông đi mười ngày đường đến châu Bình Nguyên (Việt Nam), đi thêm năm ngày đến huyện Phú An, tiếp tục đi một ngày đến phủ Tuyên Giang hay châu Tuyên Hóa, rồi đi thêm hai ngày đến phủ Đoan Hùng. Từ Đoan Hùng đi thêm năm ngày sẽ gặp ngã ba Tam Kỳ Giang, rồi theo dòng Phú Lương về tới Bạch Hạc và xuôi về Đông Kinh.32

Từ Quảng Đông đến Việt Nam, hành trình sẽ theo đường thủy. Từ các hải khẩu thuộc tỉnh Quảng Đông, đi ngang qua đảo Liêm Châu (Trung Quốc), rồi men theo bờ biển phía bắc Việt Nam vào đến phủ Hải Đông (Việt Nam). Hoặc từ bán đảo Ô Lôi Châu, thuyền đi ngang qua đảo Bạch Long Vĩ, rồi thâm nhập vào nội địa Việt Nam qua một trong năm cửa biển: Bạch Đằng, An Dương, Đồ Sơn, Đa Ngư và Thái Bình; rồi ngược theo một trong những dòng sông: Bạch Đằng, Hoàng Kinh, Phú Lương, Hồng Hà, Thái Bình… đi qua các phủ, huyện như Nghi Dương, Bình Hà, Nam Sách, Thượng Hồng; hay Kiêu Thoại, Tân Minh, Tứ Kỳ, Khoái Châu, Kinh Môn, Hạ Hồng… để vào Đông Đô.33

ban-do-cac-lo-trinh-cua-su-bo

Những con đường thông thương giữa Trung Hoa và Việt Nam nói trên phần lớn do người Trung Quốc khai mở trong các cuộc viễn chinh xâm lược Việt Nam từ thời Hán (221 – 206 trước CN) cho đến thời Thanh. Và các sứ bộ Việt Nam từ thời Lê (1427 – 1788) đến thời Nguyễn (1802 – 1945) cũng sử dụng các con đường này để đi sứ nhà Thanh (Xem Bản đồ: Các lộ trình từ Trung Hoa đến An Nam).

2. Hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam khi đi sứ sang Trung Hoa

Như đã đề cập trên đây, triều đình Việt Nam cử các phái bộ sang Trung Hoa với nhiều mục đích: ngoại giao, chính trị, thương mại… Bài khảo cứu này không quan tâm đến các chuyến “đi công vụ”; các chuyến đi vì mục đích thương mại thuần túy (chủ yếu đến vùng Quảng Đông và Hương Cảng để mua hàng), mà chỉ xem xét hoạt động thương mại kiêm nhiệm trong các sứ bộ ngoại giao do triều đình Việt Nam, chủ yếu là triều Nguyễn, cử sang Trung Hoa dưới triều Thanh.

a. Thẩm quyền giao dịch thương mại của các sứ bộ

Thời Nguyễn, những sứ thần sang Thanh, ngoài các nhiệm vụ chính yếu như cầu phong, tạ ân, cáo thụ, chúc mừng… còn kiêm nhiệm việc mua sắm hàng hóa cho triều đình. Việc sai sứ sang Thanh là trách nhiệm của bộ Lễ, nhưng triều đình cũng bổ sung vào thành phần sứ đoàn, nhiều quan chức của các bộ, phủ khác như bộ Hộ, phủ Nội Vụ… nhằm thực thi nhiều chức trách khác nhau ở nước ngoài, quan trọng nhất vẫn là việc tìm mua các hàng hóa để đáp ứng các nhu cầu của hoàng gia và triều đình. Vì thế, ngoài các sứ thần (gồm 1 chánh sứ và 2 phó sứ), sứ bộ còn bao gồm các hành nhân và tùy tùng, là những người khiêng kiệu cho sứ thần và mang vác cống phẩm, hàng hóa. Sách KĐĐNHĐSL cho biết: Vào đầu triều Gia Long, triều đình “định lệ sai sứ sang nhà Thanh, cứ bốn năm sai sứ đi một lần. Nếu gặp các lễ chúc mừng, xin phong, tạ ơn hay dâng hương mà có sai sứ đi đều phải tư trước cho bộ Hộ và phủ Nội Vụ theo lệ làm mọi việc, và tư cho Hà Nội tìm sắm đồ vật. Lại soạn sẵn công văn gửi tỉnh Quảng Tây hỏi rõ ngày cho vào cửa quan rồi chờ tỉnh ấy trả lời. Xin chỉ trước giao cho đình thần chọn cử lấy ba viên sứ thần: 1 chánh sứ, 2 phó sứ và chọn lấy 8 hành nhân, 9 người tùy tùng34, nhưng sang đầu triều Minh Mạng, số người trong mỗi sứ bộ sang Thanh có gia tăng: gồm 3 sứ thần, 3 lục sự, 9 hành nhân, 15 tùy tùng (30 người).35 Sở dĩ có việc gia tăng nhân lực này là để phụ giúp vào việc vận chuyển hàng hóa đi và về. Việc Việt Nam gia tăng nhân sự trong sứ bộ khiến nhà Thanh phải thêm phần tốn kém, vất vả trong việc cung đốn, phục dịch và áp tải sứ bộ trên đất Trung Hoa. Vì thế, vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825), “nước Thanh tư sang ấn định mỗi sứ bộ chỉ có 20 người, gồm 3 sứ thần, 8 hành nhân, 9 tùy tùng” như trước.36

Trước nay, có một số ý kiến cho rằng các sứ bộ ngoại giao không kiêm nhiệm hoạt động thương mại và vật phẩm do các sứ thần mang về từ Trung Quốc không phải là hàng hóa, mà là tặng phẩm của triều đình Trung Hoa cho triều đình Việt Nam. Theo tôi, ý kiến này không chính xác, bởi có nhiều sử liệu ghi chép tường tận việc mua bán hàng hóa của các sứ bộ ngoại giao thời Nguyễn ở Trung Hoa:

– Châu bản triều Nguyễn (Tập 15, tờ 212-213) phản ánh: “Ngày 28 tháng 3 năm Minh Mạng thứ 7 (1826), Hiệp tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thận tấu trình về việc ngày 18 tháng 3, hai sứ bộ sang Thanh (một sứ bộ do Hoàng Kim Hoán làm chánh sứ và một sứ bộ do Hoàng Văn Quyền làm chánh sứ, đều sang Thanh năm 1825 – T.Đ.A.S.), trở về đến Thăng Long. 2 chánh sứ Hoàng Kim Hoán và Hoàng Văn Quyền theo trạm về trước, 4 phó sứ còn lưu lại Thăng Long để kiểm soát đồ vật. Hộ tào Nguyễn Công Thiệp đã cùng các phó sứ kiểm kê đồ vật mua được; chọn các loại hàng hóa nhẹ như gấm, đoạn… gồm 14 thùng, phân thành 12 gánh chuyển theo đường bộ về Kinh (Huế – T.Đ.A.S.) từ ngày 25 tháng 3. Còn hàng nặng gồm 16 thùng thì niêm phong, giao Cục Tạo tác giữ gìn, cùng với 53 hòm tư trang của hai sứ bộ và tùy tùng, chờ để chuyển về Kinh bằng đường biển.37

– Sách KĐĐNHĐSL cho biết vào năm 1841, nhà Thanh có chiếu chỉ cho phép triều đình nhà Nguyễn miễn hai kỳ tuế cống vào năm Tân sửu (1841) và năm Ất tị (1845).38 Trên thực tế, tuy không sai sứ đi triều cống theo lệ, nhưng nhà Nguyễn vẫn cử sứ bộ do Lý Văn Phức làm chánh sứ đi báo tang vua Minh Mạng và xin phong vương cho vua Thiệu Trị vào năm 1841. Sau đó, cử sứ bộ do Trương Hảo Hợp làm chánh sứ đi tạ ân vào năm 1845. Sứ bộ này cũng nhận trách nhiệm đặt họa sĩ Trung Quốc vẽ những bức tranh gương minh họa nội dung một số bài thơ ngự chế của vua Thiệu Trị. Đây là những bài thơ in trong Ngự đề danh thắng đồ hội thi tập (御 題 名 勝 圖 會 詩 集) do Nội các triều Nguyễn xuất bản vào năm 1845. Trong số đó, có 20 bài thơ vịnh 20 cảnh đẹp ở đất thần kinh, Thần kinh nhị thập cảnh thi vịnh (神 京 二 十 景 詩 咏) như: chùa Thiên Mụ, vườn Thiệu Phương, hồ Tịnh Tâm, núi Ngự Bình… Mỗi bài thơ trong Thần kinh nhị thập cảnh thi vịnh đều có in kèm một bức tranh mộc bản, vẽ rất chi tiết và tỉ mỉ những thắng cảnh được nhà vua tuyển chọn và vịnh thơ. Những bức vẽ này do các họa sĩ trong Họa tượng cục của triều Nguyễn thực hiện, rồi giao cho Nội các triều Nguyễn khắc in. Các họa sĩ Trung Hoa đã dựa vào những bản vẽ này để sao chép lại trên gương, cùng với bài thơ vịnh và dòng lạc khoản chữ Hán: Thiệu Trị Ất tị cung lục (紹 治 乙 巳 恭 錄). Những bức tranh gương này hiện đang treo trong điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) và điện Long An (Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế). Sứ bộ Trương Hảo Hợp về đến kinh đô Huế vào năm Bính ngọ (1846) thì bị xử phạt vì tội bắt phu khuân vác nặng (khiến có người phải lao lực mà chết). Trong số họ, Trương Hảo Hợp bị phạt nặng nhất, mất chức Tả thị lang bộ Lễ và bị điều đi giữ chức Quyền Tuần phủ Lạng Sơn.39

– Sách ĐNTL ghi: “Năm Tự Ðức nguyên niên (1848), Phủ Nội vụ lấy đơn hàng giao cho sứ bộ sang nước Thanh (tức là sứ bộ do Bùi Quỹ làm chánh sứ, Vương Hữu Quang và Nguyễn Thu làm phó sứ, đi báo tang vua Thiệu Trị và xin phong cho vua Tự Ðức – T.Đ.A.S.), nhân tiện tìm mua hàng hóa nước Thanh. Trong đó kê khai những đồ ngọc, đồ cổ, đồ sứ và các đồ chơi. Khoa đạo là Ðỗ Danh Thiếp tâu nói: Hoàng thượng ta chính mới trong sáng, mọi việc bỏ xa xỉ theo kiệm ước. Nay đương ở trong nhà để tang, đồ mặc, đồ dùng trong cung đều theo trắng mộc chất phác. Huống chi sứ thần đi báo tin quốc tang, mà lại hỏi mua các đồ chơi quý lạ, thế không phải là tỏ ra kiệm ước vậy. Các hàng kê mua ấy đều xin đình chỉ. Vua khen và nghe lời tâu”.40

– Châu bản triều Nguyễn (tờ 209-214) phản ánh: Năm Tự Đức thứ 21, ngày 15 tháng 8: “Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tế trình danh sách các vật phẩm mà hai người đã sang Hương Cảng tìm mua để cung tiến trong dịp Lục tuần Đại khánh của Hoàng thái hậu (Từ Dũ – T.Đ.A.S.)”.41 Trước đó, hai người này được phái sang Hương Cảng để truy tìm một phạm nhân của triều đình tên là Lê Duy Định đang trốn tại đó và tập hợp bè đảng, mua vũ khí chống lại triều đình, sau kiêm thêm nhiệm vụ mua hàng.

– Trong cuốn Histoire des Relations de la Chine avec l’Annam – Việtnam du XVIe au XIXe siècle, G. Devéria cũng phản ánh một số sự kiện liên quan đến việc tìm mua hàng hóa của các sứ thần Việt Nam:

+ Năm 1775, sứ thần An Nam khi đi qua Nam Kinh muốn mua lụa. Thanh triều không phản đối chuyện việc này, nhưng do đây là một việc mua bán riêng tư, không có sự tiến cử của Thanh triều, nên các thương nhân Trung Hoa đã tăng giá lên một cách thái quá, khiến sứ thần An Nam phải cãi cọ nhau. Sau đó các quan cầm quyền phải can thiệp vào. Từ đó về sau sứ thần sẽ phải nộp cho nhà chức trách danh sách các món hàng mà mình muốn mua. Các nhà cầm quyền sẽ có nhiệm vụ mua hàng giúp cho các sứ thần.42

+ Năm 1794, vua của An Nam, vì thích các sản phẩm kỹ nghệ của Trung Quốc, mới đặt làm các áo dài thêu tại tỉnh Giang Nam; vua An Nam phái một người với các quyền hành để thực thi điều này. Người này có các giấy tờ chứng nhận rằng các món đồ này là dành cho vua; hoàng đế Trung Hoa sợ các đòi hỏi của ông vua này sẽ tăng lên mãi, sợ số các người môi giới này sẽ tăng lên gây ra rắc rối, nên đã ban chiếu chỉ sau: “Nước An Nam gửi đồ nộp cống hai năm một lần, các sứ giả đi lại luôn luôn. Nếu vua (An Nam) muốn mua áo quần cho mình thì sai các sứ thần mua các đồ này khi phái các sứ thần sang (Trung Hoa). Khi vua (An Nam) cần mua cái gì tại Nam Kinh, vua cần báo với tổng đốc Lưỡng Quảng xin hoàng đế (Trung Hoa) cho phép sứ thần An Nam thay đổi lộ trình đã định và đi bằng đường thủy ngang qua Nam Kinh. Nếu vua (An Nam) không có gì mua tại Giang Nam, sứ thần của ông sẽ phải đến Bắc Kinh bằng lối Hồ Bắc và Hồ Nam, như đã làm trước đây”.43

Có một điều thú vị là các sứ bộ không chỉ mang cống vật đi nộp theo yêu cầu của Thanh triều và mua hàng hóa, vật phẩm từ Trung Hoa mang về. Họ còn mang hàng hóa từ trong nước sang bán ở Trung Hoa. Cũng trong cuốn Histoire des Relations de la Chine avec l’Annam – Việtnam du XVIe au XIXe siècle, G. Devéria đã công bố nội dung một chiếu chỉ do nhà Thanh ban hành năm 1665, cho phép các sứ thần của các nước phiên thuộc được phép mang theo hàng hóa từ các xứ này sang bán tại Bắc Kinh: Các sứ thần của các nước nộp cống, trừ các sứ thần của Lưu Cầu và Cao Ly, sau khi đã được hoàng đế ban quà, được phép mở chợ trong 3 hoặc 5 ngày. Riêng sứ thần của Lưu Cầu và Cao Ly có thể buôn bán bất kỳ ngày nào. Bộ Lễ giao cho bộ Hộ chỉ định các quan làm việc tại các kho của triều đình được giao nhiệm vụ mua sắm (hàng hóa do sứ thần các nước này bán – T.Đ.A.S.) cho triều đình. Khi nhận được sự trả lời của bộ Hộ, một thông báo sẽ được ban hành và người ta sẽ chỉ định các quan để coi về sự công bằng trong giao dịch. Tàu thuyền của các nước nộp cống, nếu đến ngoài những thời điểm xác định để nhận đồ cống của nước họ sẽ được xem như là buôn bán bất hợp pháp. Các tổng đốc và các quan trấn thủ sẽ phải đuổi họ đi”.44

b. Danh mục cống phẩm và hàng hóa giao dịch của các sứ bộ Việt Nam

Các nguồn sự liệu liên quan đến hoạt động thương mại của các sứ bộ Việt Nam ở Trung Quốc đã phân định rõ ràng giữa cống phẩm với hàng hóa đưa đi bán, cũng như giữa tặng phẩm (của nhà Thanh cho triều đình Việt Nam) với hàng hóa mua về.

* Cống phẩm: Theo Đại Thanh hội điển, vào năm 1803, nhà Thanh đã ban hành danh mục các cống phẩm mà triều Nguyễn cho phải tiến cống cho triều đình Trung Hoa theo định kỳ: “Theo đề nghị của bộ Lễ, cống phẩm thông thường 2 năm 1 lần mà An Nam phải gửi sang, theo quyết định của Trẫm, gồm: 600 lạng trầm hương (沉 香); 1200 lạng hương để ướp áo quần cho thơm (薰 衣 香); 4 ngà voi (象 牙); 4 sừng tê giác (犀 角); 600 tấm lụa (白 絹); 200 tấm vải bông (棉 花); 90 cân hạt sa nhân (砂  仁); 90 cân hạt cau khô (梹 榔). Còn cống phẩm nhân các lễ mừng (Đăng quang; Khánh thọ… của hoàng đế hay hoàng gia nhà Thanh – T.Đ.A.S.) gồm: 4 ngà voi (象 牙); 4 sừng tê giác (犀 角); 300 tấm lụa (白 絹); 100 tấm vải bông (棉 花)”.45

Ngoài các vật phẩm trong danh mục trên, đôi khi phía Trung Hoa cũng yêu cầu thêm một số cống vật khác như: vàng và bạc đã gia công (金 銀 器 皿); nhựa cây giáng hương (降 真 香); nhựa cây tốc hương (速 香); gỗ trầm (木香); trầm sợi màu đen (黑 線 香); quạt giấy (紙扇); các loại lụa địa phương như: thổ chu (土 綢); thổ quyên (土 絹); thổ hoàn (土 紈); nhựa cây tử giáng hương (紫 降 香).46

* Hàng đưa đi bán: Như đã đề cập trên đây, ngoài các cống phẩm, các sứ đoàn còn mang theo hàng hóa đến Trung Hoa để giao dịch. Chiếu thư năm 1665 của Thanh triều nói rõ: “Các sứ thần đến nộp cống phẩm được phép mang theo hàng hóa (để bán – T.Đ.A.S.), nhưng họ phải lo trả phí vận chuyển. Nếu thích hợp cho họ thì họ có thể buôn bán tại Bắc Kinh nhưng nếu họ thích buôn bán ở chỗ khác thì các phó vương và các quan trấn thủ sẽ phải chỉ định người theo dõi các giao dịch và báo trước các khó khăn”.47 Trong cuốn Histoire des Relations de la Chine avec l’Annam – Việtnam du XVIe au XIXe siècle, G. Devéria, dựa vào cuốn An Nam thổ vật, cho biết hàng hóa Việt Nam mang sang bán ở Trung Hoa thường là các sản vật đặc trưng của nước ta như: vàng tự nhiên: (生 金); bạc (銀); đồng (銅); đơn sa (丹 砂); ngọc trai (珠); đồi mồi (玳 瑁); san hô (珊 瑚); trầm hương (沉 香); dầu tô hợp (蘇 合 油); ngọc phỉ thúy (翡 翠); trĩ lông trắng (白 雉); hươu trắng (白 鹿); tê giác (犀); voi (象); sừng tê giác cái, dùng làm chén uống rượu (兕); dê núi (羚 羊); đười ươi (猩 猩); khỉ nhiệt đới (狒 狒); khỉ bắt chuột (蒙 貴); con trăn (蚺  蛇); quả xoài (菴 羅 果); quả mít (波 羅 密); cau khô (檳 榔); hồ tiêu (胡 椒); gỗ cây sam (蘇 木); gỗ mun (烏 木); muối (鹽); sơn (漆).48

* Hàng mua về: Con đường đi sứ từ Việt Nam lên đến Bắc Kinh đi qua rất nhiều tỉnh, thành Trung Hoa. Mỗi tỉnh, thành đều có những loại đặc sản riêng rất được các sứ thần ưa chuộng. Trong số đó, các mặt hàng tơ lụa cao cấp Giang Nam; đồ gốm sứ Giang Tây; rượu của Quý Châu; thuốc bắc ở Bắc Kinh, trà ở Hồ Bắc; lâm thổ sản của Vân Nam… là những thứ luôn được triều đình kê đơn mua hàng.

Trên đường đi sứ, các sứ thần sẽ ghé Giang Tây, đặt các lò gốm sứ vùng này chế tác những món đồ sứ theo yêu cầu của triều đình và quan lại Việt Nam (đồ sứ ký kiểu). Lượt về, họ sẽ tiếp nhận các món đồ sứ này để chuyển về nước. Ngoài việc ký kiểu các món đồ sứ cho triều đình, có ghi niên hiệu các triều vua Việt Nam (như Minh Mạng niên chế, Thiệu Trị niên tạo, Tự Đức niên chế, Khải Định niên tạo…) và trang trí các đề tài dành riêng cho các bậc đế vương; các sứ thần còn ký kiểu những món đồ sứ cho riêng mình. Những món đồ sứ này thường có hiệu đề niên đại, ghi năm họ được cử đi sứ Trung Hoa như: Giáp tí niên chế (1804); Canh thìn niên chế (1820), Bính tuất niên chế (1826), Đinh tị niên tạo (1857)… (Tôi đã thống kê được 52 hiệu đề niên đại có trên đồ sứ ký kiểu phù hợp với những năm có sứ bộ Việt Nam đi sứ Trung Hoa).

Ngoài trừ những món đồ phải đặt làm trước như đồ sứ ký kiểu hay tranh gương, phần lớn các mặt hàng khác đều được sứ bộ mua trên hành trình trở về nước. Lụa, tơ tằm, trà, thuốc bắc… là những hàng hóa dễ dàng vận chuyển được mua từ Trung nguyên, còn các mặt hàng thổ sản, hàng hóa có kích thước và trọng lượng lớn, chủ yếu được mua ở các tỉnh gần biên giới như Quảng Tây, Vân Nam…

Devéria cũng công bố trong cuốn sách của mình những mặt hàng mà các sứ bộ thường mua ở Quảng Tây và Vân Nam, gồm: trà Thái Hoa (太 華 茶); cá chỉ vàng (金 線 魚); chim công (孔雀); ngựa (馬); các loại vải đặc biệt như: sa la bố (沙 羅 布), văn bố (紋 布); gấm ngũ sắc (五 色 錦); giấy Thiên Trường (千 張 紙); các loại trúc thổ sản như: đậu trúc (豆 竹), vân trúc (雲 竹), phác trúc (撲 竹); thùy ti trúc (垂 絲 竹), kê thố trúc (雞 腿 竹); (麝 香); đá cẩm thạch (屏 石); quặng đồng (石 青); thiết (鐵); bạch đồng (白 銅); kim cương (金 綱 鑽), thạch anh tím (紫 石); ngọc lưu li (琉璃); thạch cao (石 膏); hổ phách (琥 珀); ngọc (玉); bột đá đỏ (銀 硃); muối đen (黑 鹽); đá long não (龍 腦 石)…49

Ngoài số hàng hóa mà các sứ bộ mua về theo yêu cầu của triều đình Việt Nam, họ còn mang theo những tặng phẩm do hoàng đế Trung Hoa tặng cho vua và triều thần Việt Nam.

Trên đường về nước, các sứ bộ được quan quân các địa phương Trung Quốc hộ tống và cử người mang vác hành lý, hàng hóa cho sứ bộ mỗi khi sứ bộ đi qua địa phận do họ cai quản. Những người này cũng có trách nhiệm báo cáo về cho triều đình nhà Thanh hành trình của sứ bộ từ lúc họ rời Bắc Kinh cho đến khi sứ bộ vượt qua các cửa ải vào nội địa Việt Nam. Từ đây, các quan tuần phủ ở các phủ, châu sát biên giới như Lạng Sơn, Thủy Vĩ, Bình Nguyên… sẽ cử người hộ tống sứ bộ và áp tải hàng hóa về đến Hà Nội. Tại đây, hàng hóa và tặng phẩm sẽ được phân loại sơ bộ, theo đó, tặng phẩm của Thanh triều cùng tư trang hành lý của sứ đoàn và những hàng hóa quan trọng sẽ được chuyển về kinh đô Huế cùng một lượt với sứ bộ. Các loại hàng hóa cồng kềnh, kém quan trọng sẽ được quan nha Bắc Thành tạm thời quản lý và sau đó được chuyển về Huế bằng đường thủy, như ghi chép trong tờ 212-213 của châu bản triều Minh Mạng mà tôi đã trích dẫn trên đây.50

                                                                                                            T.Đ.A.S.

 Chú thích

1 Hoàng Xuân Hãn, “Vụ Bắc sứ năm Canh thìn đời Cảnh Hưng với Lê Quý Ðôn và bài trình bằng văn Nôm”, Sử địa, Số 6, 1967, tr. 3-5.

2 Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, 3 tập, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1992.

3 và 20 Nguyễn Thị Thảo, Phạm Văn Thắm, Nguyễn Kim Oanh, Sứ thần Việt Nam, Nxb VHTT, Hà Nội, 1996.

4 Philippe Truong, Les bleu Trịnh (XVIIIe siècle), Paris, 1999.

5 Hội đồng trị sự Nguyễn Phúc tộc, Nguyễn Phúc tộc thế phả, Nxb Thuận Hóa, 1995.

6; 8 và 9 Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Tân Việt xuất bản, Sài Gòn, 1954, tr. 364; 376 và 383.

7 Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Duy Chính (Hoa Kỳ) mới công bố trong 2 cuốn sách: Giở lại một nghi án lịch sử “Giả vương nhập cận”. Có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung hay không? (Nxb Văn hóa – Văn nghệ, TPHCM, 2016) và Phái đoàn Đại Việt và lễ Bát tuần khánh thọ của Thanh Cao Tông (Nxb Văn hóa – Văn nghệ, TPHCM, 2016) thì không có chuyện Phạm Công Trị đóng giả vua Quang Trung sang mừng thọ vua Thanh Cao Tông (vua Càn Long) mà đích thân vua Quang Trung đã dẫn đầu phái đoàn mừng thọ này đi sang Trung Hoa vào năm Canh Tuất (1790) (T.Đ.A.S bổ sung thông tin này vào ngày 18.10.2016).

10 Philippe Truong, Les ambassades en Chine sous la dynastie des Nguyễn (1804 – 1924) et les bleu de Hué, Paris, 1998.

11 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, Tập 8, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 305.

12 Quốc sử quán triều Nguyễn, Ðại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, Tập XX, Nxb KHXH, Hà Nội, 1968, tr. 65.

13 Phạm Tuấn Khánh, “Chuyến đi sứ của Ðặng Huy Trứ và một tư liệu chưa được công bố”, Thông tin Khoa học và Công nghệ, Số 3,1995, tr. 85 – 90.

14 Quốc sử quán triều Nguyễn, Ðại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, Tập XXXV, Nxb KHXH, 1976, Hà Nội, tr. 161.

15 và 20 Phạm Ðức Thành Dũng, Vĩnh Cao, Khoa cử và các nhà khoa bảng triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2000, tr..528.

16 Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp, Di sản Hán Nôm Việt Nam. Thư mục đề yếu, 3 tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1993.

17 Ðỗ Bang, Nguyễn Minh Tường, Chân dung các vua Nguyễn, Tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1996.

18 Bửu Cầm, “Các sứ bộ do triều Nguyễn phái sang nhà Thanh”, Sử địa, Số 2, 1966, tr. 46-51.

19 Bùi Hạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phương, Những ông nghè ông cống triều Nguyễn, Nxb VHTT, Hà Nội, 1995.

23; 24; 34; 35 và 36 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, Tập 8, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 315-316; 366-368; 305 và 308.

25; 26; 27; 28; 29; 30; 31; 32; 33; 42; 45; 46; 47; 48; 49; 43 và 44 G. Devéria, Histoire des Relations de la Chine avec l’Annam – Việtnam du XVIe au XIXe siècle, Ernest Leroux Editeur, Paris, 1880; tr. 60; 61; 78-79;81-82; 82-83; 84; 84-86; 70; 52; 89; 87; 71; 88-89 và 71.

37 và 50 Cục lưu trữ nhà nước, Đại học Huế, Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Giao lưu Văn hóa, Mục lục châu bản triều Nguyễn, 2 tập, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1998, tr. 420.

38 Vương Hồng Sển, Khảo về đồ sứ cổ men lam Huế, 2 tập, Nxb TPHCM, 1993, tr. 154.

39 Quốc sử quán triều Nguyễn, Ðại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, Tập XXVI, Nxb KHXH, Hà Nội, 1972; tr. 139.

40 Quốc sử quán triều Nguyễn, Ðại Nam thực lục, Bản dịch của Viện Sử học, Tập XXVII, Nxb KHXH, Hà Nội, 1973, tr. 58-59.

41 Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, Châu bản triều Tự Đức 1848 – 1883. Ban Văn học chọn tuyển và tóm lược, Tài liệu đánh máy, Lưu hành nội bộ, 1979; tr. 104.

Đăng tải tại Câu chuyện lịch sử | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

200 NĂM VUA GIA LONG TUYÊN BỐCHỦ QUYỀN HOÀNG SA (1816 – 2016)

Trần Đức Anh Sơn

anh-1

Chân dung vua Gia Long do một họa sĩ người Pháp vẽ vào thế kỷ XIX.

1. Kế nghiệp tiền nhân

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, năm 1802, Nguyễn Ánh (1762 – 1820) lên ngôi vua ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, chính thức khai lập vương triều Nguyễn. Không chỉ cai quản một nước Việt Nam thống nhất và dài rộng như ngày nay, vua Gia Long còn quan tâm đến việc chiếm hữu và xác lập chủ quyền đối với những vùng biển đảo mà tiền nhân đã dày công khai phá, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

1.1. Tiền nhân mở lối

Theo ghi chép trong nhiều thư tịch cổ như Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư  (Đỗ Bá, 1686), Hải ngoại kỷ sự (Thích Đại Sán, 1699), Phủ biên tạp lục (Lê Quý Đôn, 1776)… thì từ thế kỷ 17, người Việt đã dong thuyền đến các hải đảo ở giữa biển Đông để đánh bắt hải sản và khai thác yến sào trên các hòn đảo. Họ gọi tên dải đảo, đá, bãi ngầm này là Bãi Cát Vàng hoặc Cồn Vàng, còn các sử liệu Hán văn thì ghi là Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa…, trong khi tư liệu và bản đồ của phương Tây thì định danh nơi này là Parcel, Pracel, Paracels, Paraselso

Cuối thế kỷ 17, chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã lập đội Hoàng Sa, hàng năm cử đội này ra Hoàng Sa để thăm dò, đo đạc hải trình, khai thác yến sào trên đảo và thu nhặt vũ khí, vàng bạc, hàng hóa… từ các con tàu của nước ngoài khi đi ngang qua Hoàng Sa thì gặp nạn và bị chìm trong vùng biển này. Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dẫn của Đỗ Bá  chép: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Mỗi lần có gió tây nam thì thuyền buôn các nước đi ở phía trong trôi giạt ra đây; gió đông bắc thì thuyền buôn chạy phía ngoài cũng trôi giạt vào đây, đều bị chết đói hết cả. Hàng hóa đều vứt bỏ nơi đây. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối đông, đưa 18 chiếc thuyền đến đây thu nhặt hàng hóa, của cải, phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn. Danh xưng Bãi Cát Vàng – Hoàng Sa bấy giờ được dùng để gọi tên cho cả dải đảo, đá, bãi ngầm ở giữa biển Đông, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa. Về sau, người Việt mới phân biệt quần đảo Hoàng Sa với các hải đảo, bãi ngầm khác nằm trong vùng biển phía nam Hoàng Sa. Vùng biển này được đặt tên là Bắc Hải; hải đảo, bãi ngầm nơi đây về sau được gọi là Vạn Lý Trường Sa hay Trường Sa.

ky-1-anh-02

Đoạn viết về Bãi Cát Vàng và hoạt động của đội Hoàng Sa thời chúa Nguyễn trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dẫn của Đỗ Bá, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

Năm 1708, Mạc Cửu, một người Hoa lưu vong đã có công khai phá vùng đất Hà Tiên ở phía nam trở thành một vùng đất trù phú, đã dâng vùng đất này cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn sáp nhập Hà Tiên vào lãnh thổ Đàng Trong, ban cho Mạc Cửu chức Tổng binh cai quản trấn Hà Tiên. Năm 1711, Tổng binh Mạc Cửu ra Phú Xuân để tạ ơn chúa Nguyễn Phúc Chu, được chúa hậu thưởng và giao cho tổ chức khảo sát đo vẽ quần đảo Trường Sa.

Như vậy, đến đầu thế kỷ 18, chính quyền của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã quản lý một vùng lãnh thổ rộng lớn, trải đến tận Hà Tiên và mũi Cà Mau, bao gồm cả các hải đảo ở biển Đông và trong vịnh Thái Lan. Từ nửa sau thế kỷ 18, ngoài đội Hoàng Sa, chúa Nguyễn còn lập thêm đội Bắc Hải (trực thuộc đội Hoàng Sa) có trách nhiệm khai thác hải vật; kiểm tra, kiểm soát thực thi chủ quyền của Việt Nam ở khu vực “các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên” (Phủ biên tạp lục). Hoạt động của đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải kéo dài cho đến cuối thế kỷ 18, được tổ chức có hệ thống và liên tục. Hàng năm từ tháng 3 đến tháng 8 âm lịch, chính quyền đều sai cử hai đội này ra Hoàng Sa và Trường Sa thực thi công vụ.

Các bộ lịch sử và địa chí được biên soạn vào thời Nguyễn (1802 – 1945) như: Đại Nam thực lục, Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt địa dư chí… đều ghi chép về việc các chúa Nguyễn đã khai phá, chiếm hữu và tổ chức khai thác các nguồn lợi ở Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển đảo khác của Việt Nam, với biên chế chặt chẽ, hoạt động chuyên nghiệp: đội Hoàng Sa chuyên khai thác ở vùng biển đảo Hoàng Sa; đội Bắc Hải trực thuộc đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa hơn về phía nam, gồm quần đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo trong vịnh Thái Lan; đội Thanh Châu chuyên khai thác yến sào ở các đảo ngoài khơi vùng biển Bình Định; đội Hải Môn hoạt động ở Cù lao Thu và các đảo phụ cận ở ngoài khơi vùng biển Bình Thuận…

Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn (1771 – 1801), dù ở trong tình trạng chiến tranh với họ Nguyễn và đối phó với ngoại xâm như Xiêm La (1785), Mãn Thanh (1788 – 1789) vẫn quan tâm và duy trì hoạt động của đội Hoàng Sa. Một thư tịch cổ đề ngày 14 tháng 2 năm Thái Đức thứ 9 (1786) do quan Thái phó Tổng lý quân binh dân chư vụ thượng tướng công của triều Tây Sơn gửi cho Cai đội Hoàng Sa thời đó có chép: “Sai Hội Đức hầu, Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét, đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu vượt biển, thẳng đến Hoàng Sa và các xứ cù lao ngoài biển, thu lượm vàng bạc, đồ đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, hải ba, cá quý… mang về kinh đô dâng nộp theo lệ”. Điều này chứng tỏ nhà Tây Sơn vẫn tiếp tục duy trì hoạt động của đội Hoàng Sa nhằm khai thác các lợi ích kinh tế và kiểm soát chủ quyền biển đảo nước ta đương thời.

1.2. Nguyễn triều kế nghiệp

Năm 1803, sau khi lên ngôi được một năm, vua Gia Long đã cho tái lập các đội Hoàng Sa, Bắc Hải và đặt vào trong cơ cấu tổ chức chung của các đội Trường Đà, có chức năng khai thác và quản lý toàn bộ khu vực biển Đông.

anh-3

Đoạn viết về việc vua Gia Long cho tái lập đội Hoàng Sa trong Đại Nam thực lục chính biên, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

Sách Đại Nam thực lục chính biên do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn cho biết: năm 1803 vua Gia Long ra lệnh cho quan chức ở phủ Quảng Ngãi “lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa1; năm 1815 vua “sai bọn Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình2; năm 1816 vua “lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình3; năm 1817 vua tiếp nhận địa đồ đảo Hoàng Sa do thuyền Ma Cao vẽ và dâng lên, ban thưởng 20 lạng bạc cho họ về việc này.4

anh-4

Đoạn viết về việc vua Gia Long sai Phạm Quang Ảnh ra Hoàng Sa khảo sát và đo đạc thủy trình trong Đại Nam thực lục chính biên, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

anh-5

Đoạn viết về việc vua Gia Long tiếp tục sai thủy quân ra khảo sát Hoàng Sa vào năm 1816 trong Đại Nam thực lục chính biên, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội).

Đặc biệt, vua Gia Long sai đội Hoàng Sa phối hợp cùng thủy quân của triều đình ra thăm dò, đo đạc thủy trình và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 được nhiều nguồn tư liệu phương Tây đương thời ghi nhận, coi đây là dấu mốc quan trọng xác nhận sự chiếm hữu chính thức đối với quần đảo Hoàng Sa và là biểu tượng của việc xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này. Đây là một sự chuyển biến quan trọng về nhận thức của vua Gia Long, từ kế nghiệp tiền nhân khai thác Hoàng Sa, Trường Sa một cách tự nhiên, tiến đến việc công khai việc chiếm hữu Hoàng Sa, tạo điều kiện cho các triều đại kế vị thúc đẩy mạnh mẽ việc xác lập, kiểm soát và thực thi chủ quyền đối với quần đảo này và những vùng biển đảo khác của Việt Nam.

anh-6

Tượng đài đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải ở trên đảo Lý Sơn.

2. Dấu mốc 1816 trong tư liệu phương Tây

Việc vua Gia Long chính thức tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816, dù được ghi chép ngắn gọn trong sử sách của triều Nguyễn, nhưng lại được người phương Tây coi là một sự kiện trọng đại và được phản ánh trong nhiều tư liệu xuất bản ở phương Tây vào đầu thế kỷ 19 bằng các ngôn ngữ: Pháp, Anh, Đức, Ý…

2.1. Nhân chứng và bằng chứng

Hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine (tiếng Pháp) của Jean-Baptiste Chaigneau, một người Pháp là đại thần của triều đình Gia Long, xuất bản ở Paris (Pháp) năm 1820, có đoạn viết: “Vương quốc Cochinchine (tên người phương tây gọi Việt Nam lúc đó) mà vị vua hiện nay (vua Gia Long) tuyên xưng hoàng đế gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc Cao Miên, một vài đảo có dân cư ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel (quần đảo Hoàng Sa) hợp thành từ những đảo nhỏ, bãi ngầm và mỏm đá không có người ở. Chỉ đến năm 1816 đương kim hoàng đế mới chiếm hữu được quần đảo này”.

Tập san Journal of an Embassy from the Governor-General of India to the Courts of Siam and Cochin China (tiếng Anh) do John Crawfurd biên soạn, xuất bản tại London (Anh) năm 1830, có đoạn viết: “Năm 1816, vua Cochin China đã chiếm một quần đảo không có người ở và hiểm trở bao gồm nhiều đá, đảo nhỏ, bãi cát… gọi là Paracels. Theo đó, nhà vua tuyên bố quần đảo này thuộc chủ quyền nước này, mà hầu như sẽ không bị tranh chấp”.5

Journal of an embassy from the governor-general of India to the

Đoạn viết về việc vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 trong tập san Journal of an Embassy from the Governor-General of India to the Courts of Siam and Cochin China, do John Crawfurd biên soạn, xuất bản tại London năm 1830.

Sách Die Erdkunde von Asien (tiếng Đức) của Carl Ritter, xuất bản tại Berlin (Đức) năm 1834, đã miêu tả các đảo thuộc vương quốc Cochinchina, trong đó có Paracels là “dãy đảo đá san hô đầy nguy hiểm, nổi tiếng vì nhiều rùa và cá, nằm ở phía đông nam đảo Hải Nam. Những đảo nhỏ đầy cát và rong này vốn được hoàng đế Cochinchina tuyên bố chủ quyền từ năm 1816 và không gặp bất kỳ sự phản đối nào của các nước lân bang”.6

Bài Note on the Geography of Cochin China (tiếng Anh) của Jean Louis Taberd, Giám mục người Pháp bên cạnh triều đình Gia Long, in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal, xuất bản tại Calcutta (Ấn Độ) năm 1837, có đoạn viết: “Quần đảo Pracel hay Paracels là một khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát… Những người dân xứ Cochinchina gọi khu vực đó là Cồn Vàng… Mặc dù rằng hình như loại quần đảo này chỉ có độc những tảng đá ngầm mà không có gì khác, và độ sâu của biển hứa hẹn những điều bất tiện hơn là sự thuận lợi, nhưng vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông đã tăng cường được quyền thống trị lãnh thổ của mình bằng sự sáp nhập tội nghiệp đó. Vào năm 1816, nhà vua đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn là sẽ không có một ai tìm cách tranh giành với ông”.7

Journal of the Asiatic Society of Bengal

Đoạn viết về việc vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 trong bài Note on the Geography of Cochin China của Giám mục Jean Louis Taberd, in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal, xuất bản tại Calcutta năm 1837.

Sách Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse (tiếng Đức) của Johann Gottfried Sommer, xuất bản tại Praha (Czech) năm 1839, có đoạn viết: “Trong vùng biển (Nam) Trung Hoa, chỉ có các đảo sau thuộc chủ quyền Cochinchina là quan trọng: Pulo-Condore (Côn Đảo), Pulo-Canton hay là Col-lao-Ray (Cù lao Ré) và Tscham-col-lao hay là Col-lao-Tscham (Cù lao Chàm). Ngoài các đảo này ra, năm 1816, vua Cochinchina đã chiếm hữu bãi đá san hô nguy hiểm và không có người sinh sống, gồm nhiều bãi đá và cồn cát có tên là Paracles. Khó ai có thể phản đối chủ quyền của Cochinchina về phần đất mới chiếm của vương quốc này”.8

Traité élémentaire de géographie

Đoạn viết về việc vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 trong sách Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse của Johann Gottfried Sommer, xuất bản tại Praha năm 1839.

Sách Del vario grado d’importanza degli stati odierni (tiếng Ý) của Cristoforo Negri, xuất bản tại Milano (Ý) năm 1841, ghi nhận: “Vào năm 1816, vua của vương quốc Cocincina đã chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa”.9

Hồi ký Voyage pittoresque en Asie et en Afrique (tiếng Pháp) của J.B. Eyriès, xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1841, có đoạn viết: “Có nhiều đảo tại đế chế An Nam: ta lưu ý về phía nam – đông nam của đảo Hải Nam có quần đảo Paracels, là một chuỗi đá ngầm rất nguy hiểm do các bãi cát và mỏm đá ở xung quanh. Các đảo này không có người ở, nhưng do việc khai thác đồi mồi và cá ở đây rất nhiều, hoàng đế An Nam đã cho chiếm hữu nó vào năm 1816 mà các lân bang không hề có ý kiến gì”.10

Sách L’Univers: Histoire et description de tous les peuples (tiếng Pháp) do Jean Yanoski và Jules David biên soạn, xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1848, có đoạn viết: “Chúng tôi nhận xét rằng từ 34 năm nay, quần đảo Paracels (người Annam gọi là Cát Vàng) đã có người An Nam chiếm đóng… Chúng tôi không biết là họ có thiết lập ở đây một cơ sở hay không (có lẽ là với mục đích để bảo vệ việc đánh cá chẳng hạn); nhưng chắc chắn là hoàng đế Annam đã thiết tha muốn gắn thêm cái hoa nhỏ này vào vương miện của mình, vì nhà vua đã phán đoán về vấn đề tự mình đi chiếm hữu nó, và năm 1816 vua đã long trọng cắm tại đây lá cờ của Annam”.11

Voyage pittoresque en Asia et en Afrique

Đoạn viết về việc vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 trong sách L’Univers: Histoire et description de tous les peuples do Jean Yanoski và Jules David biên soạn, xuất bản tại Paris năm 1848.

– Sách L’univers. Histoire et description de tous les peuples. Japon, Indo-Chine, etc. (tiếng Pháp) của Adolphe Dubois de Jancigny, xuất bản tại Paris (Pháp) năm 1850, có đoạn viết: “…Từ hơn 34 năm, quần đảo Paracel, (người Annam gọi là Cát Vàng), là một dải đảo quanh co với nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Annam chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng hoàng đế Annam đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm hữu nó, và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Annam”.12

anh-11

Bản đồ Partie de la Cochinchine trong bộ Atlas Universel do nhà địa lý học người Bỉ Philippe Vandermaelen biên soạn và xuất bản tại Bruxelles (Bỉ) năm 1827. Trên tờ bản đồ này có vẽ quần đảo Paracels và ghi chú đó là một phần thuộc về vương quốc Cochinchine thuộc đế chế An-nam.

2.2. Không hề có tranh chấp với láng giềng

Những trích dẫn trên đây từ các tư liệu của phương Tây đương thời cho thấy người phương Tây đánh giá cao việc vua Gia Long cho người ra Hoàng Sa cắm cờ và tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa. Sự kiện này chứng minh việc kế thừa hoạt động khai phá, chiếm hữu tự nhiên quần đảo Hoàng Sa mà nhiều thế hệ người Việt đã thực thi liên tục trong hàng trăm năm trước, nay được vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu chính thức. Điều quan trọng là lời tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa của vua Gia Long, theo các tư liệu phương Tây ghi nhận, đã không gây nên một cuộc tranh chấp nào với các nước láng giềng đương thời.

Các tư liệu phương Tây cũng ghi nhận rằng mặc dù quần đảo Hoàng Sa xa xôi, cách trở, chứa đựng nhiều bất trắc và nguy hiểm hơn là hứa hẹn những thuận lợi nhưng vua Gia Long vẫn quyết định sáp nhập quần đảo này vào lãnh thổ Việt Nam nhằm để “tăng cường quyền thống trị” (lời của Giám mục Jean Louis Taberd).

Sự sáp nhập này đã thể hiện một “tầm nhìn chiến lược” của vua Gia Long đối với một quần đảo có vị trí quan yếu trong chiến lược làm chủ mặt biển của vua Gia Long, đồng thời đề phòng các nước láng giềng dòm ngó và tranh chấp với Việt Nam về chủ quyền trên quần đảo này.

Sự kiện này cũng khẳng định các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục và hòa bình từ hàng trăm năm trước, thông qua các hoạt động do nhà nước tổ chức, do nhà vua trực tiếp chỉ đạo. Vua Gia Long là người đã kế thừa xuất sắc vai trò chỉ đạo này và đã củng cố vững chắc chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa mà các thế hệ tiền nhân đã xác lập từ trước.

3. Triều Nguyễn thực thi chủ quyền

anh-14

Thuyền chiến thời Nguyễn. Tranh vẽ của Nguyễn Thứ, họa sĩ cung đình thời Nguyễn.

Sự kiện vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa vào năm 1816 được ghi nhận trong sách Đại Nam thực lục bằng một dòng ngắn gọn: “Gia Long năm thứ 17 (1816)… [vua] lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để xem xét, đo đạc thủy trình”.13

3.1. Nhân chứng đầu tiên

Trong khi đó, nhiều tư liệu do người phương Tây biên soạn và xuất bản vào đầu thế kỷ 19 đã ghi nhận việc này như một sự tuyên bố chiếm hữu chính thức của vua Gia Long, kèm theo đó là những miêu tả về địa lý – tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa, điểm lược quá trình khai phá và chiếm hữu của người Việt đối với quần đảo này và bình luận về mục đích sáp nhập Hoàng Sa vào lãnh thổ Việt Nam của vua Gia Long. Thậm chí có tư liệu còn viết rằng đích thân nhà vua đã đến cắm cờ và long trọng tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa như các ghi chép của Giám mục Jean Louis Taberd (1838), của các tác giả Jean Yanoski và Jules David (1848), của Adolphe Dubois de Jancigny (1850).

Đối chiếu với các nguồn sử liệu Việt Nam và căn cứ vào thực tế cai trị đất nước của các vua triều Nguyễn, có thể xác quyết rằng vua Gia Long không đích thân đi ra Hoàng Sa để cắm cờ và tuyên bố chủ quyền. Nhà vua chỉ sai cử đội Hoàng Sa cùng với thủy quân của triều đình ra Hoàng Sa để làm việc này, coi đó là một hoạt động thường xuyên, tiếp nối việc khai chiếm Hoàng Sa và Trường Sa từ các thời trước để duy trì sự chiếm hữu của người Việt đối với hai quần đảo này. Có lẽ vì thế mà sử sách của triều Nguyễn ghi chép sự kiện này khá khiêm tốn. Tuy nhiên theo quan điểm của học giới phương Tây thì sự kiện này có một ý nghĩa to lớn. Bởi lẽ, trong thời kỳ này chủ nghĩa tư bản đang ráo riết chinh phục những vùng đất còn lại ở phương Đông, sau khi đã hoàn tất quá trình chinh phục và thực dân ở châu Phi và châu Mỹ. Vì thế họ coi việc tuyên bố chiếm hữu lãnh thổ theo kiểu thức phương Tây là những dấu mốc quan trọng để xác lập sự chiếm hữu và chủ quyền đối với những vùng đất mới khai phá.

Ghi chép đầu tiên của người phương Tây về tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa của vua Gia Long vào năm 1816, là của Jean-Baptiste Chaigneau trong cuốn hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine, viết vào khoảng trước năm 1820.

Jean-Baptiste Chaigneau (1769 – 1832) là sĩ quan hải quân người Pháp đã phụng sự Nguyễn Ánh từ năm 1796 theo tiến cử của Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc). Ông được Nguyễn Ánh phong chức Đại úy hải quân và được giao chỉ huy chiếc tàu Long Phi trang bị 32 khẩu đại bác với 300 thủy thủ đoàn, và đã tham gia tất cả các trận thủy chiến với quân Tây Sơn, trong đó, có trận đánh lớn đánh bại lực lượng thủy quân Tây Sơn tại vùng biển Quy Nhơn vào năm 1801. Sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, Jean-Baptiste Chaigneau trở thành một trong ba đại thần người Pháp trong triều đình Gia Long, được giao chỉ huy những chiến hạm thiện chiến nhất của triều Nguyễn đương thời: Jean-Baptiste Chaigneau chỉ huy tàu Long Phi, Philippe Vannier (1762 – ?) chỉ huy tàu Phụng Phi và De Forçanz (? – 1811) chỉ huy tàu Bằng Phi. Jean-Baptiste Chaigneau tiếp tục phục vụ vua Gia Long cho đến tháng 11 năm 1819 thì mới đưa gia đình trở về Pháp để nghỉ phép 3 năm theo ân đãi của vua Gia Long, sau đó thì trở lại Nam Kỳ làm Lãnh sự Pháp ở Sài Gòn theo lệnh vua Louis XVIII vào năm 1821.14

Như vậy, Jean-Baptiste Chaigneau đã ở bên cạnh vua Gia Long trong giai đoạn cuối của công cuộc phục quốc (cuối thế kỷ 18) cho đến những năm cuối của triều Gia Long. Vì thế, ông là chứng nhân trong sự kiện vua Gia Long sai cử binh thuyền và đội Hoàng Sa đi ra quần đảo Hoàng Sa “để xem xét, đo đạc thủy trình” vào năm 1816. Với tầm nhìn của một sĩ quan hải quân thiện chiến, đã từng là tình nguyện quân trên các tàu chiến của Hải quân hoàng gia Pháp từ năm 12 tuổi.15

Jean-Baptiste Chaigneau đã chinh chiến ở các vùng biển Ấn Độ, Macao và biển Đông, khai chiếm nhiều vùng đất mới ở phương Đông để phục vụ lợi ích của nước Pháp, trước khi trở thành cận thần của vua Gia Long. Có lẽ vì thế mà ông hiểu được giá trị và ý nghĩa của việc vua Gia Long sai người ra Hoàng Sa “cắm cờ và long trọng tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa” vào năm 1816. Ông coi đây là sự tuyên bố chủ quyền chính thức đối với quần đảo Hoàng Sa của vương triều Nguyễn và đã ghi chép sự kiện này trong cuốn hồi ký Le mémoire sur la Cochinchine, xuất bản ở Paris năm 1820. Có lẽ đây là nguồn sử liệu đầu tiên của phương Tây đề cập sự kiện vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa vào năm 1816, tạo niềm cảm hứng và cơ sở dữ liệu cho những ghi nhận sự kiện này của học giới phương Tây sau này.

3.2. Những hoạt động thực thi chủ quyền

Từ tuyên bố chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa của vua Gia Long vào năm 1816, hoạt động thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa được tiến hành liên tục và triệt để hơn dưới triều Minh Mạng (1820 – 1841): năm 1833, vua Minh Mạng phái người ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia và trồng cây (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 104, tờ 18b-19a). Năm 1834, vua Minh Mạng sai Giám thành vệ đội trưởng Trương Phúc Sĩ cùng hơn 20 thủy quân đi ra Hoàng Sa vẽ bản đồ (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 122, tờ 23a). Năm 1835, vua Minh Mạng sai Cai đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và thợ ở Giám thành vệ cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định chở vật liệu ra Hoàng Sa dựng miếu, lập bia đá và xây bình phong trước miếu.16

anh-12

Đoạn viết về việc vua Minh Mạng chuẩn tấu của bộ Công, sai Thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền ra Hoàng Sa vẽ bản đồ và cắm mốc chủ quyền vào năm 1836 trong Đại Nam thực lục chính biên.

Đặc biệt, năm 1836, vua Minh Mạng sai Chánh đội trưởng thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền ra Hoàng Sa đo đạc, vẽ bản đồ các đảo, hòn, bãi cát… thuộc quần đảo này. Khi ra đo đạc ở Hoàng Sa, Phạm Hữu Nhật đã mang theo 10 cọc gỗ, trên cọc có khắc dòng chữ Hán (Việt dịch): “Năm Minh Mạng thứ 17, Bính Thân, Chánh đội trưởng thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc, đến đây khắc lưu chữ này” (Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 165, tờ 24b-25a). Đây là hình thức cắm mốc chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa do Phạm Hữu Nhật thực hiện theo lệnh của vua Minh Mạng. Những chuyến đi ra Hoàng Sa đo đạc, lập bản đồ từ năm 1834 đến năm 1836 của Thủy quân, Giám thành vệ và phu thuyền trong đội Hoàng Sa đã cung cấp thông tin, dữ liệu để triều đình Minh Mạng hoàn thành bản đồ chính thức của nước Đại Nam vào năm 1838. Đó là Đại Nam nhất thống toàn đồ, bản đồ hành chính đầu tiên của nước ta có sự phân biệt Hoàng Sa với Vạn Lý Trường Sa.

anh-13

Mộc bản triều Nguyễn (tại Trung tâm lưu trữ quốc gia IV) khắc in sách Đại Nam thực lục chính biên về việc vua Minh Mạng chuẩn tấu của bộ Công, sai Thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền ra Hoàng Sa vẽ bản đồ và cắm mốc chủ quyền vào năm 1836.

Các đội Hoàng Sa, Bắc Hải hoạt động mạnh và hiệu quả dưới thời Gia Long cho đến đầu thập kỷ 20 của thế kỷ 19 thì được tích hợp vào đội Thủy quân của triều Nguyễn. Những “hùng binh Hoàng Sa – Bắc Hải” nay đã trở thành thủy quân trong quân đội chính quy của triều đình, tham gia vào hoạt động thực thi và bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới thời Nguyễn.

Về mặt pháp lý, sự kiện tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa năm 1816 dưới triều Gia Long đã góp phần xác lập nội dung: “Chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức chiếm hữu thực sự và thực thi chủ quyền một cách liên tục” suốt thời Nguyễn (trong thế kỷ 19), sau khi các chúa Nguyễn đã xác lập nội dung “Chủ quyền bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ” (trong các thế kỷ 17 – 18). Đây là hai trong bốn nội dung của nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” đã được đưa ra trong Định ước Berlin ký ngày 26.6.1885 và được tái khẳng định trong Tuyên bố của Viện Pháp luật quốc tế Lausanne năm 1888 về nguyên tắc “chiếm hữu thực sự” có giá trị phổ biến trong luật pháp quốc tế để xem xét giải quyết các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia trên thế giới sau này.

3.3. Kẻ đến sau

Gần 100 năm sau sự kiện vua Gia Long tuyên bố chiếm hữu Hoàng Sa, tháng 5 năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng (Trung Quốc) là Trương Nhân Tuấn mới sai Thủy sư đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy ba chiếc thuyền đi ra thám thính quần đảo Hoàng Sa. Ngày 6.6.1909, Lý Chuẩn cho quân đổ bộ lên đảo Hoàng Sa và tuyên bố “chiếm hữu” quần đảo này, chính thức nhảy vào cuộc tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, mà trước đó gần một thế kỷ vua Gia Long đã chính thức tuyên bố chiếm hữu và các thế hệ kế thừa đã thực thi chủ quyền đó một cách liên tục, hòa bình và không có một quốc gia láng giềng nào lên tiếng tranh chấp.

T.Đ.A.S.

Chú thích

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 22, tờ 2a.

2 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 50, tờ 6a.

3, 13 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 52, tờ 15a.

4 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhất kỷ, quyển 55, tờ 19b.

5 John Crawfurd, Journal of an Embassy from the Governor-General of India to the Courts of Siam and Cochin China, (London, 1830), 243-244.

6 Carl Ritter Die Erdkunde von Asien, Vol. 3, (Berlin, 1834), 922.

7 Jean Louis Taberd, “Note on the Geography of Cochin China”. The Journal of the Asiatic Society of Bengal, Vol. 6, Part 2, (Calcutta, 1837), 745.

8 Johann Gottfried Sommer, Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse, (Praha, 1839: 296).

9 Cristoforo Negri, Del vario grado d’importanza degli stati odierni, (Milano, 1841), 421.

10 J.B. Eyriès, Voyage pittoresque en Asie et en Afrique, (Paris, 1841),  201.

11 Jean Yanoski et Jules David, L’Univers: Histoire et description de tous les peuples, (Paris, 1848), 555.

12 Adolphe Dubois de Jancigny, L’univers. Histoire et description de tous les peuples. Japon, Indo-Chine, etc. (Paris, 1850), 550.

14, 15 H. Cosserat, “Những người Pháp phục vụ vua Gia Long”, Những người bạn cố đô Huế (BAVH), tập 4, (Huế: Thuận Hóa, 1917), 200-207, 201.

16 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, đệ nhị kỷ, quyển 154, tờ 4a-4b).

Đăng tải tại Di sản văn hóa | Bạn nghĩ gì về bài viết này?