THẦY VƯỢNG VỚI HUẾ VÀ NHÀ NGUYỄN

Trần Đức Anh Sơn

Trước tiên cho phép tôi giải thích một chút về nhan đề bài viết này:

Thầy Vượng thì ai cũng biết rồi: đó là Giáo sư Trần Quốc Vượng (1934 – 2005), Thầy của hàng ngàn học trò từ Bắc chí Nam, ở trong và ngoài Việt Nam, những người yêu thích và theo đuổi việc học hành trong các lĩnh vực: lịch sử, khảo cổ học, dân tộc học, văn hóa học, địa lý – môi trường, du lịch học, và cả… môn tử vi đẩu số nữa;

Với Huế và Nhà Nguyễn là tôi muốn đề cập những nội dung liên quan đến xứ Huế và nhà Nguyễn mà Thầy Vượng đã phát hiện và công bố trong các bài nghiên cứu của Thầy; trong những hội thảo, hội nghị; trong các chuyến điền dã, khảo sát thực địa và… cả trong những lúc “trà dư tửu hậu” với học trò của Thầy.

1. Thầy Vượng với Huế

Trong những năm theo học ngành Lịch sử tại trường Đại học Tổng hợp Huế (1985 – 1989), tôi hay nghe các thầy cô nhắc đến tên các thầy Lâm – Lê – Tấn – Vượng (cùng những thầy cô khác ở khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội) với một sự kính trọng và niềm tự hào là đã được làm học trò của quý thầy. Từ đó tôi ao ước được đi Hà Nội một lần để diện kiến quý thầy, nhất là Thầy Vượng.

“Tứ trụ” sử học (từ trái sang phải): GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, GS Phan Huy Lê và GS Đinh Xuân Lâm.

Mãi cho đến tháng 9/1992, tôi mới được gặp Thầy Vượng khi ra Hà Nội dự Hội nghị thông báo hàng năm ở Viện Khảo cổ học Việt Nam. Đó là lần đầu tiên tôi đi dự một hội nghị khoa học, nhưng lại “đụng độ” với một nhà nghiên cứu nổi tiếng ở Huế khi tranh luận với ông xung quanh chủ đề lăng mộ vua Quang Trung. Thầy Vượng không đứng về bên nào trong cuộc tranh luận ấy, nhưng đề nghị nhà nghiên cứu nổi tiếng ấy nên trả lời những câu hỏi tôi nêu ra với một tinh thần tôn trọng sự khác biệt. Sau hội nghị, tôi “đeo” lấy Thầy, dù xung quanh Thầy luôn có một “dàn” học trò và đồng nghiệp bao kín mọi nơi, mọi lúc. Tuy vậy, thầy vẫn “chiếu cố” hỏi tôi dăm ba câu về xứ Huế và nhà Nguyễn mà tôi tin là thầy đã biết rõ mười mươi.

Trở về Huế, tôi tìm đọc những gì Thầy viết, đã được công bố trước nay. Trong số đó, bài Văn hóa Huế trên dặm đường dài lịch sử của Thầy (in trên tạp chí Nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật, số 3, 1993) là bài viết gây ấn tượng sâu sắc, mà sau này khi đã có chút hiểu biết, tôi cho rằng đó chính là bản “đề án văn hóa Huế” và là “đề cương nghiên cứu” về xứ Huế cho những ai quan tâm đến vùng đất này.

Trong bài viết dài gần 10 trang này, Thầy Vượng đã đúc kết và kiến giải về văn hóa, môi trường và lịch sử xứ Huế, từ sự thâu lượm tri thức trong sách vở của người khác, từ nhiều chuyến điền dã và sự thấu thị của Thầy về vùng đất này dưới góc nhìn: địa – văn hóa, địa – sinh thái, văn hóa học, sử học… Nhiều điểm về Huế ở trong bài viết này tuy đã được vài người đề cập, nhưng đó chỉ những ý kiến tản mác, nhưng đã được Thầy tái cấu trúc thành một bộ “tiêu chí” để nhận diện và định hình lịch sử và văn hóa xứ Huế. Đó là:

– Huế là một vùng văn hóa mang bản sắc riêng, khác hẳn với những vùng văn hóa phụ cận như vùng văn hóa xứ Nghệ, vùng văn hóa xứ Quảng… Vùng văn hóa Huế “là một tổng thể – hệ thống, một không gian văn hóa (culture space) với một cấu trúc – hệ thống (structure – system) bao gồm các hệ dưới – hay tiểu hệ (sub – system) theo lối tiếp cận hệ thống (system – analysis)”.[1] Vùng văn hóa ấy có các tiểu hệ: hệ tiếng Huế, hệ hò Huế, hệ ca nhạc Huế, hệ pháp lam Huế, hệ kinh thành Huế, hệ lăng tẩm Huế, hệ đền chùa Huế… Đặc biệt, Thầy cho rằng “trong khi – nhìn cả nước – văn hóa văn minh Việt Nam cổ truyền là văn minh thôn dã (civilisation rural), là văn hóa xóm làng (culture villageoise)…” thì xứ Huế có một nền “văn hóa đô thị Huế”, sánh cùng “văn hóa đô thị Thăng Long” “văn hóa đô thị Sài Gòn”.

– Xứ Huế, cũng như xứ Đoài, xứ Quảng, xứ Nghệ… “bao giờ cũng có những biểu tượng thiên nhiên, mà cũng là biểu tượng văn hóa, là cặp đôi sông núi”, ở Huế chính là “sông Hương – núi Ngự”, nhưng chủ sơn của Huế lại chính là núi Kim Phụng, không phải là núi Ngự Bình như nhiều người từng nghĩ.

– Có ba vùng – miền hợp thành xứ Huế, là “một vùng Huế núi – đồi”, “một vùng Huế cồn – bãi”“một vùng Huế đầm – phá”. “Cả ba vùng của xứ Huế đó được kết nối bởi sông dòng Hương và bởi con người xứ Huế.

– Về mặt tự nhiên, xứ Huế nằm trong một vùng đất “quá độ về trời”“quá độ về đất” so với hai miền Bắc – Nam. Quá độ về trời là vì tuy nằm giữa một Việt Nam nội chí tuyến nhưng khí hậu – thời tiết ở Huế lại khác biệt so với hai đầu đất nước, với một “mùa mưa lệch pha” và là “vùng không có mùa đông và mùa khô rõ rệt”.[2] Quá độ về đất là do địa hình và địa chất đặc thù của xứ Huế. Phía nam xứ Huế có Hải Vân “là ngọn cuối cùng của một mạch núi từ Trường Sơn đâm ra biển và đó là đường phân giới trong thiên nhiên nước ta, giữa Bắc về Nam”. Từ Huế đi ra Bắc, địa hình – cảnh quan thường gặp là những dải núi đá vôi (caster), là những vùng gió mùa chí tuyến. Trong khi từ Huế đi vào chủ yếu là những cánh rừng á – xích đạo, những khối núi đá hoa cương (granit) hùng vĩ. Thầy Vượng kết luận: “Trời – đất xứ Huế như vậy nên sông ngòi, cỏ cây, động vật cũng vậy: là một vùng đệm Bắc – Nam của thế giới cỏ cây – động vật Ấn Hoa (indosinica) và thế giới cỏ cây – động vật Nam dương (indonesia)”.

– Về khảo cổ, Thầy Vượng cho rằng vùng đồi gò xứ Huế “đang tồn nghi” về sự hiện diện của nền văn hóa đá cũ[3], nhưng chắc chắn là có một nền văn hóa đá mới với những hiện vật là rìu tứ giác và rìu có vai nhẵn được tìm thấy ở miền đồi núi và thung lũng ở phía tây xứ Huế. Trong khi đó vùng cồn – bàu ở phía đông là nơi có sự hiện diện của nền văn hóa Sa Huỳnh với “đại diện ưu tú” là những mộ chum ở di chỉ Cồn Ràng (xã Hương Chữ, huyện Hương Trà).[4] Cùng với việc phát hiện về trống đồng Ô Lâu (xã Phong Mỹ, huyện Phong Điền), Thầy cho rằng xứ Huế là nơi giao thoa giữa văn hóa Sa Huỳnh với văn hóa Đông Sơn, và còn giao lưu xa hơn nữa với Đông Năm Á hải đảo, với Ấn Độ và Trung Hoa. Điều đặc biệt quan trọng mà Thầy Vượng lưu ý và nhắc lui nhắc tới trong nhiều phát biểu và khảo luận sau này là xứ Huế là nơi mật tập những di chỉ khảo cổ học Champa (lộ thiên và tàng ẩn)[5] đặc sắc trong bối cảnh là một bộ phận hợp thành nền văn minh Champa phát triển rực rỡ ở vùng Amavarati, vùng đất cực bắc của vương quốc Champa/Hoàn Vương/Chiêm Thành xưa. Vì thế, nói đến khảo cổ học xứ Huế cần phải đặc biệt quan tâm đến lớp Champa “ở trên” các lớp Sa Huỳnh – Đông Sơn, và “ở dưới” các lớp tiền Nguyễn và Nguyễn. Từ đó thầy dựng nên mô hình quy hoạch của một “tiểu quốc” Champa ở xứ Huế như sau:

IMG_5717

– Sau cùng, Thầy Vượng cho rằng: “xứ Huế được tích hợp vào quốc gia Đại Việt kể từ thời công chúa Huyền Trân… nhưng chỉ có Huế của (vua) Gia Long – Minh Mạng thế kỷ XIX mới bắt đầu là kinh đô đầu tiên của cả nước (trải dài) từ Lạng Sơn đến Cà Mau”.

Sau bài viết đặc sắc này, Thầy Vượng còn đến Huế rất nhiều lần trong các năm 1994 – 2005. Trong những lần đó, ngoại trừ những khi tôi vắng mặt ở Huế, bao giờ tôi cũng được tháp tùng Thầy đi điền dã, dự hội thảo, tọa đàm, nghe báo cáo kết quả khảo cổ học… và hầu rượu Thầy. Thầy còn cho tôi theo Thầy tham dự khóa Summer course vào mùa hè năm 1994, cho hơn 30 sinh viên đến từ các nước: Mỹ, Việt Nam, Lào, Thái Lan và Campuchia, do Ford Foundation tài trợ, mà Thầy là giáo sư thỉnh giảng và là người hướng dẫn hành trình nghiên cứu từ Hà Nội vào Huế, Quảng Nam, Sài Gòn và đồng bằng sông Mékong.

Những lần đến Huế, Thầy “bắt” tôi chở thầy lên Thiên Mụ – Văn Miếu, qua Thành Lồi, về Hóa Châu, Thuận An, xuống thăm tháp Chăm Phú Diên… Đi đâu Thầy cũng hỏi (học trò và dân địa phương), cũng giảng, cũng chỉ dạy (cho tôi và một vài đồng nghiệp trẻ khác) những điều Thầy biết, cảm nhận và nghi vấn về lịch sử và văn hóa xứ Huế. Thậm chí, chỉ sau một cuộc nhậu ở ven sông Đông Ba giữa Thầy với PGS. Vĩnh Phối, NNC. Huỳnh Đình Kết và tôi, Thầy trở về khách sạn viết ngay bài khảo cứu Tản mạn về ẩm thực và văn hóa ẩm thực Huế. Sáng hôm sau Thầy gọi tôi sang, bảo về đánh máy lại, coi chỗ nào chưa chuẩn thì sửa giúp, rồi gửi in trên tạp chí Huế Xưa và Nay cho Thầy.

Từ năm 1998, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế bắt đầu triển khai dự án Khảo cổ học phục vụ trùng tu di tích Huế, Thầy Vượng được mời làm cố vấn chuyên môn của dự án này từ đó cho đến ngày Thầy đi xa (tháng 8/2005). Vì thế dường như năm nào Thầy cũng vào Huế để cho ý kiến về những tầng văn hóa, về những nền móng di tích, về xuất xứ và niên đại của những di vật vừa mới phát hiện được. Bao giờ Thầy cũng đến Huế trước một ngày, rồi gọi tôi sang khách sạn, bảo chở Thầy đến hố khai quật xem xét, thảo luận với tôi một số vấn đề Thầy đang băn khoăn. Sau đó Thầy lại bảo tôi chở đi gặp vài nhà nghiên cứu ở Huế như Phan Thuận An, Hồ Tấn Phan… để trao đổi thêm “những điều tồn nghi”, trước khi tham dự và phát biểu với tư cách là cố vấn của dự án tại hội thảo báo cáo kết quả khai quật.

2. Thầy Vượng với nhà Nguyễn

Huế là “đất của nhà Nguyễn”, Thầy Vượng quan tâm đến Huế, dĩ nhiên, không thể không quan tâm đến họ Nguyễn, chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn.

Tôi đọc nhiều bài viết của Thầy về Huế Quảng Trị, Hội An (nói riêng) và vùng đất Quảng Nam (nói chung), thấy kiến văn của thầy về thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong thật sâu sắc. Những bài viết về hệ thống cảng thị cổ ở duyên hải miền Trung, về Hội An và vai trò của Dinh Trấn Thanh Chiêm đối với nền kinh tế xứ Đàng Trong trong các thế kỷ XVII – XVIII, bao giờ Thầy cũng đề cao vai trò của các chúa Nguyễn, mà theo Thầy là những người đã khai phóng một nền chính trị cởi mở và một nền kinh tế hướng ngoại để biến xứ Thuận – Quảng từ một vùng đất biên viễn trở thành một trung tâm chính trị – kinh tế – văn hóa của cả xứ Đàng Trong.[6] Thầy dạy: “Không có họ Nguyễn, không có nửa nước phía nam, không có nền kinh tế hàng hóa và không có một cảng – thị Hội An sầm uất trong các thế kỷ XVII – XVIII để ngày nay mấy ông xin UNESCO công nhận là di sản thế giới đâu”.

Tuy nhiên, bài viết của Thầy, tựa là Mấy vấn đề về vua Gia Long cho một “hội thảo kín” về vua Gia Long tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1996 mới là bài viết đáng quan tâm nhất, thể hiện một quan điểm, một cách đánh giá “rất Trần Quốc Vượng” về vua Gia Long và đối thủ của ông là vua Quang Trung. Bài viết này đã được/bị cho là “xét lại” về mặt lịch sử đối với hai vị vua có vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng to lớn đối với lịch sử Việt Nam thời cận đại: Nguyễn Huệ – Quang Trung và Nguyễn Ánh – Gia Long. Bài viết của Thầy có những luận điểm chính như sau:

– Đánh giá công lao của phong trào Tây Sơn, ở trên các mặt: [1]. Đánh đổ hai triều đình phong kiến đang trong thời kỳ thoái trào ở Đàng Trong (chúa Nguyễn) và Đàng Ngoài (vua Lê – chúa Trịnh); [2]. Đánh bại quân xâm lược Xiêm vào năm 1785; và [3]. Đại thắng đạo quân xâm lược vài chục vạn quân của nhà Thanh (Trung Hoa) vào đầu năm 1789;

– Phản bác quan điểm cho rằng nhờ sự giúp đỡ của người Pháp, thông qua vai trò trung gian của Giám mục Bá Đa Lộc thì Nguyễn Ánh mới đánh bại triều đại Tây Sơn, lên ngôi vua và lập ra triều Nguyễn. Thầy Vượng cho rằng “sự thắng lợi của Nguyễn Ánh đối với triều đại Tây Sơn chủ yếu là do những nguyên nhân nội sinh, và đứng về mặt cá nhân tôi hay là của chúng ta nhỉ, cũng đáng nên “khâm phục” dù “chút chút” – Nguyễn Ánh – một người có cá tính mạnh, từ một cậu bé con của một ông chúa bị giết hại trong tù, gần như đã nhiều lúc không còn một mảnh giáp, không còn một tấc đất, đã lấy lại được quyền bính trong cả nước Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau”.

– Tán thành quan điểm của nhà sử học kiêm linh mục Nguyễn Phương ở miền Nam Việt Nam và “một số nhà sử học nước ngoài khác – từ phe XHCN (cũ) đến phe tư bản chủ nghĩa – cho rằng Nguyễn Ánh là người trên thực tế đã thống nhất đất nước chứ không phải là ông vua anh hùng Nguyễn Huệ – Quang Trung, mặc dù ông vua anh hùng ba lần vĩ đại này đã gạt bỏ những thế lực quân chủ thối nát ở Đàng Trong, Đàng Ngoài và những lực lượng ngoại xâm đứng đàng sau những quyền lực khốn nạn ấy. Và như vậy, xét về mặt lịch sử khách quan là đã góp phần rất lớn vào công cuộc thống nhất đất nước”.

– Dùng những tư liệu lịch sử chính thống, lẫn những dẫn liệu dân gian và chiêm nghiệm thực tiễn từ kết quả khảo sát, điền dã cá nhân để chứng minh vua Gia Long là người đã đặt nền móng cho sự phát triển về mọi mặt của nước Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, đặc biệt là việc kiến lập diện mạo kinh đô Huế, xây dựng hệ thống thành quách nguy nga đồ sộ, định hình nên phong cách kiến trúc và mỹ thuật Huế mà theo Thầy là “với thời gian – đã trở thành cái ĐẸP, cái Di sản Văn hóa Dân tộc – Dân gian”, để rồi khẳng định: “Huế trở thành một Di sản Văn hóa Nhân loại – theo Quyết định của UNESCO 1993, mà hiện nay ta rất tự hào và đang biến thành Trung tâm Du lịch Văn hóa Việt Nam là NHỜ AI, nếu không phải là nhờ VUA – QUAN – DÂN thời Gia Long – Minh Mạng – Tự Đức và Nguyễn nói chung?”

– Đính chính những điều thị phi lưu truyền trong dân gian (mà không có căn cứ) nhằm bôi nhọ vua Gia Long và triều Nguyễn; đồng thời dẫn chứng những việc làm/hành động tốt đẹp, tích cực mà vua Gia Long đã thực hiện khi mới ra Bắc cũng như trong thời gian cầm quyền của ông (1802 – 1820).

– Từ đó đề nghị: “Kính xin quý vị Sử gia – tạm / gượng gọi là ‘đồng nghiệp’ của tôi bơn bớt việc “chửi bới” nhà Nguyễn – đời Nguyễn – bắt đầu từ Gia Long – đi cho tôi và dân chúng nhờ… Và thái độ tốt nhất là xếp cả xứ Huế và Việt Nam khi ấy vào Bảo tàng Lịch sử và coi khi đó, không gian đó như một TẤT YẾU TẤT NHIÊN của LỊCH SỬ VIỆT NAM !”

– Sau cùng, Thầy khẳng định nhà sử học, hơn ai hết là phải “nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, và giải thích một cách khoa học cái sự thật khách quan ấy”. Đồng thời cho rằng: “Lịch sử chính trị và lịch sử văn hóa, có cái CHUNG và cũng có cái RIÊNG. Quy mọi thứ vào chính trị hay vào kinh tế là cái nhìn (Point of view) đã “lỗi thời” (Over time) lâu rồi, quá lâu rồi”.

Sau này tôi không rõ Thầy còn viết thêm bao nhiêu bài về nhà Nguyễn nữa, nhưng với tôi và với nhiều người khác mà tôi quen biết, bài viết trên[7] của Thầy Vượng đã đưa ra những đánh giá khách quan về vua Gia Long và triều đại của ông, với một tinh thần không phải là “xét lại” như ai đó từng nghĩ, mà là “trả lại” cho lịch sử sự thật, cho vua Gia Long và vương triều Nguyễn sự đánh giá khách quan và công bằng.

Thêm nữa, chính bài viết này đã chỉ cho tôi và nhiều đồng nghiệp khác quan điểm mới mẻ trong nghiên cứu: cần lật lại những vấn đề tưởng chừng như đã ngã ngủ để soi lại những góc khuất và phản ánh đúng hơn sự thật lịch sử. Đó mới thực sự là nghiên cứu, theo đúng nghĩa của từ này trong tiếng Anh: research!

Thầy và trò (tháng 3/1996)

Thầy và trò (tháng 3/1996)

Huế, nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Thầy (8/2005 – 8/2015).

                                                                                                                             T.Đ.A.S.

Chú thích:

[1] Những đoạn in nghiêng, để trong ngoặc kép ở trong bài này là trích nguyên văn từ các bài viết của Thầy Vượng.

[2] Một nhà khí tượng học đã khái quát về thời tiết xứ Huế bằng hai câu thơ: Tứ thời trung hữu hạ, nhất vũ hóa vi đông (Trong bốn mùa đều có mùa hạ, chỉ một cơn mưa đã hóa thành mùa đông). Hai câu này có vẻ phù hợp với nhận định của Thầy Vượng về thời tiết – khí hậu của xứ Huế.

[3] Thực tế thì trong các năm 1989 – 1992, Thầy Vượng đã cùng nhiều học trò xứ Huế đi điền dã ở vùng gò đồi phía tây và đã phát hiện một số “cuội gia công” (galets aménagés) thuộc văn hóa đá cũ ở trước chùa Báo Quốc (thành phố Huế) và ở Chằm (xã Hương Bằng, huyện Hương Trà), cách ngày nay khoảng 2 – 1 vạn năm. Năm 1996 nhà nghiên cứu Mai Khắc Ứng đã phát hiện một “công cụ chặt” (end-chopper) ở vùng đồi thuộc xã Hương Hồ (thành phố Huế). “Công cụ chặt” này đã được Thầy Vượng và GS. Brian (nhà khảo cổ học người Canada) xác nhận là di vật thuộc văn hóa đá cũ, có niên đại cách ngày nay khoảng 2,5 – 2 vạn năm.

[4] Di chỉ Cồn Ràng do thầy trò khoa Sử, trường ĐHTH Huế phát hiện năm 1987, được khai quật nhiều lần, trong đó lần khai quật quy mô nhất vào năm 2000 đã phát hiện 213 mộ chum thuộc văn hóa Sa Huỳnh có niên đại cách ngày nay chừng 2.500 đến 2.000 năm.

[5] Thừa Thiên Huế là nơi có nhiều di tích, di vật Champa đã được phát hiện, khai quật, sưu tầm và đưa về trưng bày trong các bảo tàng ở Huế. Đáng chú ý là các di chỉ, phế tích Champa như thành Hóa Châu, thành Lồi, tháp đôi Liễu Cốc, tháp Phú Diên… và các hiện vật tiêu biểu như: đài thờ Vân Trạch Hòa, tượng bò Nandin Quảng Điền, tympan Thanh Phước, phù điêu đám cưới thần Siva Ưu Điềm, tượng bà Lồi Mỹ Xuyên…

[6] Khi tôi chọn đề tài làm chuyên đề nghiên cứu “tiền luận án” tiến sĩ (ba chuyên đề), Thầy bảo: “Cậu nên làm một nghiên cứu về các cảng thị cổ ở vùng duyên hải miền Trung và vai trò của chúng trong luồng hải thương trong vùng biển Đông Nam Á vào thời đại đại thương mại (Grand Commerial Age) của thế giới. Ngoài ra nên làm một nghiên cứu so sánh về gốm Việt Nam và gốm các nước Nhật Bản, Trung Quốc và Đông Nam Á xuất nhập qua các cảng – thị này”. Chính nhờ những tư vấn của Thầy mà tôi đã triển khai thành công hai chuyên đề này (chuyên đề còn lại là gốm Chonghua paekcha của Triều Tiên), để báo cáo trước bộ môn Khảo cổ học ở khoa Sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Về sau tôi đã gia công 3 chuyên đề này thành những bài nghiên cứu sâu hơn để tham dự một số hội thảo khoa học và in vào những cuốn sách chuyên khảo của tôi.

[7] Không rõ vì lý do gì mà kỷ yếu của hội thảo nói trên không được xuất bản. Tôi đọc được bài này của Thầy Vượng là nhờ bản photocopy do một đồng nghiệp ở Hà Nội chia sẻ. Sau này, có một số blog cá nhân (trong đó có tôi) đăng bài Mấy vấn đề về vua Gia Long của Thầy Vượng và được một số trang tin điện tử như: Khám phá Huế, Khoa học.net… đăng tải.

Bài này đã được đăng trong Câu chuyện lịch sử. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s