“Cần bổ sung nội dung chủ quyền biển đảo vào hệ thống sách giáo khoa”

Trn Đc Anh Sơn tr li phng vn báo Tha Thiên Huế

Trần Đức Anh Sơn và một trong những bản đồ Hoàng Sa - Trường Sa do anh sưu tầm. Ảnh: Linh Phương.

Trần Đức Anh Sơn và một trong những bản đồ có thể hiện hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do anh sưu tầm. Ảnh: Linh Phương.

Được biết đề tài “Fond tư liệu về chủ quyền của Việt Nam đối với huyện đảo Hoàng Sa – Thành phố Đà Nẵng” mà anh là chủ nhiệm đề tài đã thu thập được 56 tấm bản đồ cổ của phương Tây khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xin anh giới thiệu vắn tắt về những tấm bản đồ quý này.

Nhóm nghiên cứu chúng tôi gồm có 7 người, đã thực hiện đề tài này trong 2 năm 2010 – 2011 với mục đích sưu tầm các nguồn tư liệu liên quan đến lịch sử, địa lý tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa; quá trình khai phá, xác lập và thực thi chủ quyền của các thế hệ người Việt đối với quần đảo này để cung cấp thông tin cho người dân về chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam đối với quần đảo này, góp phần phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia. 56 bản đồ do người phương Tây thực hiện trong các thế kỷ XVI – XIX chỉ là một phần kết quả công việc của chúng tôi. Đây là những bản đồ do các nhà hàng hải, các nhà truyền giáo, các nhà buôn… phương Tây vẽ trong quá trình phát kiến địa lý, giao thương, truyền giáo… ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trên những tấm bản đồ này, quần đảo Hoàng Sa được thể hiện bằng hình vẽ ở trong vùng biển Đông của nước ta, với kinh tuyến – vĩ tuyến khá chính xác và được ghi danh là Paracel Islands, Paracel, Paracels, Pracel, Parcels, Paracelso… Ngoài việc thể hiện tọa độ địa lý của quần đảo Hoàng Sa trong vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam dưới các tên gọi như Cauchi, Cochi, Cochinchina, Cochinchine…, trên một số bản đồ, địa danh Hoàng Sa còn được ghi chú đặc biệt, thể hiện đó là một phần lãnh thổ Việt Nam. Chẳng hạn, bản đồ An Nam đại quốc họa đồ do Giám mục Jean Louis Taberd vẽ năm 1838 có ghi dòng chữ: “Paracel seu Cát Vàng”, nghĩa là “Paracel hoặc là Cát Vàng”. Vị Giám mục này trong một bài viết in trên tạp chí The Journal of the Asiatic Society of Bengal vào năm 1837 đã khẳng định: “Paracels, hay Pracel, tức là Hoàng Sa – Cồn Vàng, thuộc về Cochinchina”. Điều này chứng tỏ từ thế kỷ XVI, nhiều người phương Tây đã biết đến quần đảo Hoàng Sa và đã ghi nhận quần đảo này thuộc về xứ Đàng Trong, mà họ gọi là Cochinchine, Cochinchina hay Annam.

Ngoài 56 tấm bản đồ cổ phương Tây nói trên, anh vừa cung cấp thêm thông tin về những bản đồ mới do ông Trần Thắng, một Việt kiều ở Mỹ vừa sưu tầm được cũng có liên quan đến vấn đề chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Những tấm bản đồ do nhóm của anh phát hiện và những tấm bản đồ do ông Trần Thắng vừa sưu tầm có đặc điểm chung gì, thưa anh? Chúng có ý nghĩa như thế nào trong việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa?

Cho đến ngày 5/8/2012, người bạn của tôi là Trần Thắng, Chủ tịch Viện Văn hóa giáo dục Việt Nam (IVCE) tại Hoa Kỳ đã sưu tầm được khoảng 60 bản đồ cổ liên quan đến chủ đề Hoàng Sa và Trường Sa. Trần Thắng đã săn tìm thông tin từ các website mua bán cổ vật trên internet và đã mua được những tấm bản đồ rất quý. Đó là những tấm bản đồ về lãnh thổ Trung Quốc, do người phương Tây và do chính quyền Trung Quốc xuất bản từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XX. Những tấm bản đồ này có điểm giống nhau là phần lãnh thổ Trung Quốc được tô khác màu hoặc được giới hạn bằng những đường kẻ đậm nét để phân biệt với lãnh thổ các nước láng giềng của Trung Quốc, luôn chỉ giới hạn đến đảo Hải Nam mà thôi, và hoàn toàn không có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra Trần Thắng cũng mua được những tấm bản đồ tương tự bản đồ mà nhóm chúng tôi đã phát hiện và tập hợp, tức là những bản đồ có thể hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Như vậy, từ hai hướng nghiên cứu, phát hiện và sưu tầm khác nhau, chúng tôi đã tiếp cận với hai nhóm bản đồ: nhóm thứ nhất khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa); nhóm thứ hai khẳng định Trung Quốc không hề có chủ quyền hay mối liên quan nào với các quần đảo này. Cả hai nhóm bản đồ này tuy khác nhau về địa giới của lãnh thổ quốc gia mà nó miêu tả, nhưng lại có điểm chung là đều khẳng định Trung Quốc chưa bao giờ xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của chúng ta.

Làm thế nào để những kết quả nghiên cứu, những chứng cứ xác thực nhằm phát huy giá trị trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam?

Hiện nay nhà nước Việt Nam đang chủ trương đẩy mạnh việc nghiên cứu và công bố các chứng cứ lịch sử, trong đó có các bản đồ cổ để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu, tôi cho rằng những chủ trương, chính sách của nhà nước Việt Nam trong vấn đề này chưa đủ mạnh, có tính thời đoạn và chưa thực sự phát huy hết tiềm lực và thành tựu nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã âm thầm thực hiện trong nhiều năm qua để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.

Đây là cuộc đấu tranh lâu dài gay go và phức tạp đòi hỏi phải có sự đồng lòng giữa các nhà nghiên cứu với giới chính trị; nhà nước phải ủng hộ mạnh hơn, đầu tư nhiều hơn cho các hoạt động nghiên cứu, sưu tầm và tạo điều kiện để các nhà nghiên cứu công bố kết quả nghiên cứu của họ, cho phép phổ biến rộng rãi những kết quả nghiên cứu và những chứng cứ xác thực về quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chứ không nên “úp úp, mở mở” như hiện nay.

Theo anh, các nhà sử học và nhà khoa học Việt Nam có vai trò như thế nào trong việc đưa những bằng chứng xác thực này ra diễn đàn quốc tế để phục vụ cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam?

Theo tôi, các nhà sử học cần tiếp tục đào sâu nghiên cứu, tìm kiếm các nguồn sử liệu dưới bất kỳ hình thức nào (văn bản, hình ảnh, bản đồ, hiện vật…) và công bố rộng rãi những nghiên cứu, phát hiện đó. Các luật gia, những nhà nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật liên quan đến vấn đề này sẽ sử dụng những tư liệu lịch sử này như những bằng chứng lịch sử đích thực để tăng thêm sự thuyết phục cho các chứng lý của chúng ta tại các diễn đàn quốc tế nhằm bảo vệ chủ quyền biển đảo của chúng ta. Đây là một cuộc đấu tranh pháp lý và ngoại giao lâu dài, đòi hỏi sức mạnh tổng lực của cả hệ thống chính trị, của cả dân tộc và sự ủng hộ của công pháp quốc tế, chứ không phải là công việc “ngày một, ngày hai”, là nhiệm vụ riêng của giới sử học và các nhà hoạt động luật pháp.

Chúng ta có nên chọn lọc một vài bản đồ, cứ liệu, bằng chứng để đưa vào sách giáo khoa, giáo dục cho thế hệ trẻ để họ hiểu và ý thức trách nhiệm trong việc góp phần bảo vệ biên cương, bờ cõi? Vì rằng Trung Quốc tuy xâm chiếm biển đảo của chúng ta nhưng họ lại đưa vào sách giáo khoa những nội dung sau trái nhằm chứng mình chủ quyền phi pháp của họ đối với lãnh thổ và lãnh hải của ta, việc này có tác dụng ghê gớm về mặt nhận thức đối với người dân Trung Quốc, nhất là giới trẻ.

Tôi cho rằng cần phải bổ sung nội dung về chủ quyền biển đảo Việt Nam vào hệ thống sách giáo khoa các cấp. Theo đó, chúng ta không chỉ biên soạn những bài giảng thành văn để giáo dục cho học sinh – sinh viên về lịch sử xác lập và thực thi chủ quyền của cha ông ta, mà còn tuyển chọn những văn bản Hán – Nôm, những tấm bản đồ cổ do cha ông chúng ta đã thực hiện trước đây như Bản đồ Đại Việt Quốc in trong tập Hồng Đức bản đồ (thời Lê); Bản đồ do Đỗ Bá vẽ trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (thời Lê); Đại Nam nhất thống toàn đồ (đời Minh Mạng); Bản quốc địa đồ trong sách Khải đồng thuyết ước (đời Tự Đức), Quảng Ngãi tỉnh đồ trong sách Đồng Khánh địa dư chí (đời Đồng Khánh)…, những bản đồ phương Tây chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…, để in vào sách giáo khoa nhằm trang bị cho thế hệ trẻ kiến thức về lịch sử chủ quyền quốc gia, giáo dục cho họ ý thức và trách nhiệm đối với việc bảo vệ biên cương hải đảo của Tổ quốc. Đó là một việc cần khẩn thiết thực hiện.

Trung Quốc đưa những luận điểm sai trái, những bằng chứng dối trá vào sách giáo khoa của họ để đầu độc cho giới trẻ Trung Quốc về chủ quyền phi pháp của họ đối với lãnh thổ nước khác, trong khi chúng ta có đầy đủ tư liệu lịch sử và những bằng chứng xác thực mà không trang bị cho học sinh – sinh viên thì đó là sai lầm lớn.

Tuệ Ninh thực hiện

(Đã đăng trên báo Thừa Thiên Huế Cuối tuần, Số 655, Ngày 9.8.2012)

Bài này đã được đăng trong Đối thoại. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s